Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

Cùng bạn tìm hiểu về mua sắm thông minh - xu hướng tiêu dùng hiện đại

Ford đã áp dụng xu hướng này cho một trong những bộ phận quan trọng nhất của ô tô là động cơ. Động cơ EcoBoost 1.0L của Ford là một trong những động cơ nhỏ nhất trên thị trường hiện nay với sức mạnh không hề thua kém động cơ của một siêu xe, là sự kết hợp ba quy trình công nghệ đỉnh cao để hoạt động tốt hơn mà vẫn giảm tới 20% lượng nhiên liệu tiêu thụ.
Cách đây không lâu đã tồn tại suy nghĩ kích thước đồ vật càng lớn đồng nghĩa chất lượng càng cao. Suy nghĩ này được gán cho mọi thứ, từ đồ gia dụng đến nhà cửa, xe cộ... Ngày nay, thế giới đang đi theo xu hướng hoàn toàn ngược lại: Mọi thứ nhỏ gọn hơn, đơn giản hơn và hiệu quả hơn.
Sự phát triển này không chỉ đúng với riêng một ngành công nghiệp nào, mà trên thực tế có thể thấy ở hầu hết mọi mặt của cuộc sống.
Xu hướng thu nhỏ
Sự phát triển của công nghệ luôn là một quá trình thú vị. Bước tiến của công nghệ khiến chúng ta hiểu rằng, những sản phẩm được tinh giản và thu gọn là những sản phẩm mang tính cách mạng nhất.
Chẳng hạn như 20 năm trước, để có thể nghe nhạc trong lúc đang di chuyển, chúng ta phải mang theo những thiết bị lỉnh kỉnh. Ngày nay, chúng ta có thể tận hưởng âm nhạc trong lúc chạy bộ, lái xe... bằng những thiết bị nằm gọn trong túi áo với trọng lượng gần như không đáng kể.
Ford đã áp dụng xu hướng này cho một trong những bộ phận quan trọng nhất của ô tô là động cơ. Động cơ EcoBoost 1.0L của Ford là một trong những động cơ nhỏ nhất trên thị trường hiện nay với sức mạnh không hề thua kém động cơ của một siêu xe, là sự kết hợp ba quy trình công nghệ đỉnh cao để hoạt động tốt hơn mà vẫn giảm tới 20% lượng nhiên liệu tiêu thụ.
Mặc dù ưa thích các thiết bị công nghệ được thu nhỏ nhưng người dùng vẫn có nhu cầu về sự đa năng, và những thiết bị chỉ có một tính năng đang dần lỗi thời. Ngày nay, chiếc điện thoại thông minh còn kiêm cả vai trò của máy ảnh kỹ thuật số, máy nghe nhạc MP3, máy thu âm, công cụ lên kế hoạch, máy chơi game hay để lướt web.
Các công ty như Jawbone và Apple đã nâng cấp chiếc đồng hồ thông thường thành một thiết bị điều khiển không chỉ cho biết thời gian mà còn giúp theo dõi các hoạt động, thói quen khi ngủ, nhịp tim và chế độ ăn kiêng của người đeo.
Những phát minh này xuất phát từ nhu cầu ngày càng nhiều của con người. Người tiêu dùng (NTD) giờ đây không muốn phải mang theo nhiều vật dụng lỉnh kỉnh bên mình và cảm thấy tự do hơn khi nắm giữ ít thứ trong tay hơn.
Nguyên tắc vàng của bất động sản luôn là địa điểm. Tuy nhiên, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa và cơ hội nghề nghiệp mở rộng khiến các trung tâm thành phố ngày càng đông đúc. Để đương đầu với sự thu hẹp diện tích, dân cư thành phố đang tìm kiếm những cách sống mới để có thể tận hưởng đầy đủ tiện nghi trong không gian nhỏ.
Một trong những giải pháp cho nhu cầu này là căn hộ siêu nhỏ, không gian sống khiêm tốn hơn chứa từ 1 - 6 phòng. Được gọi là "căn hộ của tương lai", những không gian hẹp này đang ngày càng phổ biến ở các thành phố lớn như New York, Bangkok, Tokyo và Thượng Hải.
Cao cấp nhưng không xa xỉ
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng cho NTD cơ hội để xem xét lại thói quen chi tiêu. Xu hướng phô bày việc chi tiêu và thói khoe khoang sự giàu có đã dần phai nhòa, cùng với đó là sự nổi lên của thị trường hàng xa xỉ kiểu mới.
Giờ đây, sự cao cấp được thể hiện tinh tế hơn rất nhiều khi đa số các xa xỉ phẩm đều nhỏ gọn, các chi tiết được tinh giản tối đa. Thị hiếu toàn cầu này khiến NTD không còn lựa chọn những hàng hóa có thiết kế quá bóng bẩy mà chuyển sang những sản phẩm thanh lịch hơn.
Trong xã hội hiện nay, NTD bắt đầu bớt hoang phí mà đang dần chuyển sang tiêu dùng vừa đủ theo nhu cầu. Trước đây, niềm tự hào của một gia đình chính là một căn bếp hoành tráng. Lúc đó, tư tưởng tiết kiệm cũng bị ảnh hưởng do sự hấp dẫn khó chối từ của đồ ăn sẵn hay những ưu đãi giảm giá khi mua số lượng lớn.
Nhưng hiện nay, NTD đã cẩn trọng hơn trong việc tiêu thụ đồ ăn trước sự lên ngôi của thực phẩm "không rác thải". NTD ngày càng có ý thức hơn và đã tìm cách tái sử dụng đồ ăn thừa, cả các nhà bán lẻ cũng đang đi theo xu hướng này.
Nhờ những tổ chức như endfoodwaste.org, các siêu thị trên toàn thế giới đã bắt đầu quảng bá và bán rau củ có bề ngoài không quá tươi ngon chứ không loại bỏ hết như trước đây.
Có thể nói, mua sắm theo nhu cầu và thông minh đang là xu hướng tiêu dùng ngày nay. Cung cấp cho NTD những thứ họ thực sự cần là điều quan trọng nhất vì ngày nay khách hàng hiểu rõ nhu cầu của mình hơn bao giờ hết.
Tạo ra những sản phẩm đơn giản bất cứ ai cũng muốn sử dụng mà vẫn kết nối NTD với những thứ họ yêu quý chính là kim chỉ nam của các nhà lãnh đạo. Nhu cầu mới về sự đơn giản đã trở thành mấu chốt cho rất nhiều kế hoạch kinh doanh, chỉ có điều hầu hết các kế hoạch đó chưa phải là kế hoạch dài hạn. Nhưng vẫn có một thiểu số đã làm được và tạo nên những bước tiến vượt bậc.

Chia sẻ cùng bạn về 7 bí quyết thành công của các triệu phú nổi tiếng thế giới

Để trở thành doanh nhân, bạn hẳn sẽ phải xoay sở nhanh chóng để không vụt mất các cơ hội mới, phải vậy không? Song kinh nghiệm thực tế từ Barbara Corcoran - người sáng lập The Corcoran Group và Barbara Corcoran Inc. - lại cho thấy rằng theo đuổi những thị trường mới là cách nhanh nhất dẫn tới thất bại.
Trong 2,5 năm qua, trang Entrepreneur đã phỏng vấn 65 doanh nhân triệu phú về bí quyết xây dựng các doanh nghiệp thành công. Những câu chuyện mà các doanh nhân này chia sẻ đã hé lộ nhiều bài học đáng kinh ngạc, phá vỡ mọi lối mòn mà chúng ta thường thấy trong kinh doanh.
Dưới đây là 7 bài học thành công đáng học hỏi nhất mà các biên tập viên của Entrepreneur đã chọn ra:
1. Đừng bao giờ tin rằng bạn biết nhiều hơn nhân viên của mình
Nói đến những nhà lãnh đạo quyền lực, nhiều người có thể nghĩ ngay đến những nhân vật kiểu nghiêm túc, quyết đoán và tỏ ra "biết tuốt" như Donald Trump.
Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng như vậy. Khi Entrepreneurphỏng vấn Richard Branson, ông lại cho thấy một cách tiếp cận theo nghĩa hoàn toàn khác với việc lãnh đạo: “Với tất cả các nhân viên, tôi lắng nghe họ, tin tưởng họ, tôn trọng họ và để họ có cơ hội được thử! Tôi không bao giờ tin mình lại biết nhiều hơn họ", ông nói. Và đây cũng là một trong những điều quan trọng đã giúp Branson có được vị trí như ngày hôm nay.
2. Không “chơi lớn hoặc về nhà”
Chúng ta thường được nghe rằng trong kinh doanh, bạn phải chơi lớn (chấp nhận đặt cược) nếu không thì về nhà, nhảy vào bằng cả hai chân và phá bỏ đường lùi của mình.
Nhưng một bài học thú vị được rút ra từ cuộc phỏng vấn với bậc thầy marketing và tác giả được nhiều người đọc nhất Seth Godin là việc “chơi lớn hoặc về nhà” không phải là cách hay nhất đối với một doanh nhân vừa khởi nghiệp. Thay vào đó hãy khởi đầu nhỏ và bắt đầu ngay từ bây giờ.
3. Khách hàng không phải lúc nào cũng là "thượng đế"
Nhiều doanh nhân luôn làm theo triết lý khách hàng luôn đúng. Tuy nhiên, theo Tim Ferriss - tác giả có nhiều cuốn sách bán chạy trên tờThe New York Times lại cho rằng khách hàng không phải lúc nào cũng đúng hoặc giữ quyền chỉ huy.
Bởi thực tế, Ferriss cho rằng một số khách hàng không xứng đáng với điều đó, và bạn không cần phải cung cấp dịch vụ tốt cho họ. Loại khỏi danh sách phục vụ các khách hàng khó chịu sẽ giúp bạn có thêm thời gian để nuôi dưỡng các mối quan hệ với những khách hàng tốt và kiếm được thêm tiền về lâu dài.
4. Bạn không cần phải thông minh thì mới thành công
Những người muốn trở thành doanh nhân thường nghĩ rằng họ phải là người thông minh nhất (hoặc có hiểu biết nhất) trong lĩnh vực của họ thì mới kinh doanh thành công được. Cũng chính việc tự nhận bản thân là người kém thông minh đã khiến nhiều người từ bỏ khát vọng biến giấc mơ doanh nhân của họ thành hiện thực.
Tất nhiên, việc đảm bảo công ty của bạn là một trong số những công ty tốt nhất là điều quan trọng, nhưng theo Neil Patel - người sáng lập Kissmetrics, bạn không cần phải là người thông minh nhất thì mới trở thành một doanh nhân thành công mà quan trọng hơn bạn cần tuyển được những người thông minh và biết cách đặt họ vào đúng vị trí.
5. Hãy ích kỷ trong việc giải quyết các vấn đề
Các doanh nhân thành công trong các công ty thường giải quyết cả các vấn đề của những người khác? Có thể, nhưng Danae Ringelmann - người sáng lập nên Indiegogo cho rằng để đảm bảo thành công trong kinh doanh, hãy tập trung giải quyết vấn đề của chính chúng ta.
Ở độ tuổi 20, Ringelmann đã vấp phải một vấn đề và nhận ra rằng nó không chỉ tác động tới cô mà còn tác động tới mọi người trên khắp thế giới. Vậy vấn đề ở đây là gì? Đó chính là việc tiếp cận vốn thiếu hiệu quả. “Các ý tưởng không được ra đời mỗi ngày, không phải là vì thiếu đam mê hoặc động lực, mà là thiếu sự tiếp cận với đúng người gác cửa, người giữ hầu bao”, Ringelmann nói.
Hãy ích kỷ trong việc giải quyết các vấn đề. Nếu bạn trải qua một thách thức, thì có nhiều khả năng những người khác cũng trải qua nó.
6. Đầu tư vào sân sau của chính bạn
Để trở thành doanh nhân, bạn hẳn sẽ phải xoay sở nhanh chóng để không vụt mất các cơ hội mới, phải vậy không? Song kinh nghiệm thực tế từ Barbara Corcoran - người sáng lập The Corcoran Group và Barbara Corcoran Inc. - lại cho thấy rằng theo đuổi những thị trường mới là cách nhanh nhất dẫn tới thất bại.
“Tôi đã quan sát nhiều người thông minh hơn tôi rất nhiều nhưng lại mất đi số tiền bằng với số tiền tôi kiếm được. Bạn có biết họ đã quên mất điều gì không? Họ quên đầu tư vào sân sau của họ - thứ mà họ đều biết. Họ nghe ngóng được một thị trường mới đang là một hiện tượng và khi cố gắng thâm nhập nó, họ đã mất tất cả”, bà nói.
Do đó, đừng quên đầu tư vào sân sau của bạn, vào những gì là thế mạnh mà bạn hiểu rất rõ.
7. Đừng xem tiền là mục tiêu cuối cùng
Nhiều người muốn kinh doanh vì mục đích kiếm tiền, nhưng điều này không nên là lý do duy nhất. Marie Forleo - người sáng lập Marie TV và B-School chia sẻ bí quyết thành công trong kinh doanh của cô như sau: “Tiền bạc không phải là mục tiêu cuối cùng. Những người tôi cho là thành công nhất đều có động lực khác thúc đẩy họ, đó là mong muốn cháy bỏng được tạo ra sự khác biệt”.
Những doanh nhân không đơn thuần theo đuổi tiền bạc cũng chính là những người chịu nhiều "bầm dập" nhất nhưng cũng thành công nhất.

Giới thiệu với bạn về chỉ số PMI tháng 11 giảm thấp nhất trong 2 năm qua

Trong khi đó, một số công ty tham gia khảo sát cho biết đã nâng sản lượng để đáp ứng mức tăng của số lượng đơn đặt hàng mới, tuy nhiên cũng có những công ty khác lại cho biết sản lượng giảm do số lượng đơn đặt hàng mới giảm. Trong đó, sản lượng trong lĩnh vực hàng hóa đầu tư cơ bản tiếp tục tăng, nhưng trong lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng và trung gian lại giảm.
Kết quả này cho thấy các điều kiện kinh doanh tại các công ty sản xuất của Việt Nam bị suy giảm nhẹ. Trước đó, hồi tháng 9, PMI Việt Nam đã giảm xuống dưới ngưỡng 50 điểm lần đầu tiên trong 25 tháng, đạt 49,5 điểm.
Theo Nikkei, số đơn đặt hàng mới trong tháng 11 đã giảm tháng thứ ba liên tiếp, mặc dù chỉ giảm nhẹ. Ngoài ra, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cũng giảm tháng thứ 6 liên tiếp.
Các công ty duy trì sản lượng không đổi trong tháng sau khi đã tăng nhẹ trong tháng 10. Nikkei cho rằng, áp lực giảm phát vẫn còn trong lĩnh vực sản xuất khi giá cả đầu ra đã giảm với tốc độ nhanh hơn.
Trong khi đó, một số công ty tham gia khảo sát cho biết đã nâng sản lượng để đáp ứng mức tăng của số lượng đơn đặt hàng mới, tuy nhiên cũng có những công ty khác lại cho biết sản lượng giảm do số lượng đơn đặt hàng mới giảm. Trong đó, sản lượng trong lĩnh vực hàng hóa đầu tư cơ bản tiếp tục tăng, nhưng trong lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng và trung gian lại giảm.
Số lượng đơn đặt hàng mới giảm cũng dẫn đến tình trạng giảm việc làm lần đầu tiên kể từ tháng 3/2015. Trong khi các công ty sản xuất hàng hoá đầu tư cơ bản tiếp tục tăng số lượng nhân công thì các lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa trung gian đã giảm việc làm.
Trong báo cáo về PMI tháng 11/2015, ông Andrew Harker (tại Markit - công ty thu thập kết quả khảo sát) cho rằng lĩnh vực sản xuất của Việt Nam đang trải qua một thời kỳ đình trệ, khi các công ty khó bảo đảm nhận được các hợp đồng mới.

Cùng tìm hiểu về vấn đề trên đường khởi nghiệp: Hãy lắng nghe bản năng

Zach Robbins bắt đầu thực hiện dự án Leadnomics từ khi còn đang học đại học nên ở giai đoạn này, Zach có cơ hội nhận được nhiều góp ý từ các chuyên gia. “Những người đồng quan điểm sẽ giúp bạn đẩy ý tưởng đi xa hơn. Mặt khác, những góp ý khách quan từ những người dày dạn kinh nghiệm cũng sẽ giúp bạn suy nghĩ khác đi và đôi khi cứu bạn khỏi những sai lầm nghiêm trọng”, Zach Robbins khuyên.
Zach Robbins – nhà đồng sáng lập công ty quảng cáo kỹ thuật số Leadnomics cho rằng, trong trường hợp này, việc lắng nghe bản năng trở nên rất quan trọng.
Sau đây là những cách giúp cho bản năng lên tiếng để bạn trở thành một nhà sáng lập xuất sắc:
1. Duy trì sự khách quan
Zach Robbins cho biết: “Lúc đầu, tôi thường rất kiên trì với một dự án đến nỗi hiếm khi nghĩ rằng nó sẽ không thành công. Tôi không bị tác động nhiều bởi các dữ liệu. Khi đầu tư nhiều thời gian, năng lượng và vốn liếng, một cách tự nhiên, bạn sẽ cảm thấy mình bị gắn liền với một ý tưởng hoặc một dự án. Thậm chí bạn còn có thể thuyết phục bản thân rằng bạn đang làm tốt, dù sự thật có phải là vậy hay không".
Tuy nhiên, Zach Robbins cho rằng, ở giai đoạn sau, lúc đã thu gom được quá nhiều dữ liệu, quá nhiều thông tin, bạn sẽ có xu hướng không còn muốn lắng nghe bản năng của mình nữa. Bạn thậm chí còn không muốn lắng nghe sự thật.
Vì vậy, hãy cố gắng duy trì sự khách quan. Hãy xem xét những dữ liệu thô một cách tỉnh táo để xem nó thật sự có ý nghĩa gì. Bạn cần có đam mê để làm việc nhưng cũng cần có lý trí để bỏ qua những thứ không cần thiết.
2. Hãy có một “thùng thư góp ý”
Zach Robbins bắt đầu thực hiện dự án Leadnomics từ khi còn đang học đại học nên ở giai đoạn này, Zach có cơ hội nhận được nhiều góp ý từ các chuyên gia.
“Những người đồng quan điểm sẽ giúp bạn đẩy ý tưởng đi xa hơn. Mặt khác, những góp ý khách quan từ những người dày dạn kinh nghiệm cũng sẽ giúp bạn suy nghĩ khác đi và đôi khi cứu bạn khỏi những sai lầm nghiêm trọng”, Zach Robbins khuyên.
3. Đừng bao giờ phản bội bản năng
Các chuyên gia cố vấn có thể nhiều kinh nghiệm hơn bạn trong nhiều lĩnh vực nhưng điều đó không có nghĩa là mọi nhận định của họ đều đúng đối với tất cả tình huống bạn gặp phải trong quá trình kinh doanh.
Hãy chú trọng những góp ý của họ, nhưng đừng xem họ như “quyển từ điển sống”. Bởi vì đôi khi, chính những dữ liệu có sẵn và bản năng của bạn sẽ dẫn dắt bạn đi đúng hướng.
4. Làm việc nhiều không đồng nghĩa với làm việc hiệu quả
Bạn thường rất bận rộn ở giai đoạn đầu thực hiện ý tưởng, và sự bận rộn đó có phải là dấu hiệu cho thấy bạn đang tiệm cận thành công? Hãy cẩn thận, đừng để bị rơi vào tình trạng nhận thức sai lầm về năng suất.
“Những phần việc không quan trọng, không phục vụ trực tiếp cho mục tiêu đôi khi lại tiêu tốn đến 40% thời gian của bạn. Vì vậy, đừng để phí công sức vào những phần việc hoặc những cuộc gặp gỡ vô nghĩa”, Zach Robbins nói.

Tìm câu trả lời cho: CMO: Cần hay không?

Nghiên cứu khảo sát quyền lực của bộ phận marketing tại 612 DN của Mỹ trong giai đoạn 1993 - 2008 cho thấy, quyền lực của bộ phận marketing tăng theo thời gian, làm tăng thu nhập cổ đông của công ty trong tương lai dài hạn thông qua việc tác động tích cực đến chỉ số thu nhập trên tài sản trong ngắn hạn. Tuy nhiên, khi ứng dụng vào thực tiễn cần lưu ý:
Nghiên cứu của Nath và Mahajan năm 2008 đăng trên Tạp chí Tiếp Thị (Journal of Marketing) của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ hồi tháng 5 và tháng 9/2015 cho rằng, gần như sự hiện diện của CMO trong nhóm TMT không có tác động đến hiệu quả kinh doanh của DN.
Trong khi đó, Weinzimmer và đồng sự chỉ ra rằng, sự hiện diện của CMO trong nhóm TMT có tác động tích cực đến tăng trưởng doanh số. Nghiên cứu này thúc đẩy vai trò của CMO trong nhóm C-suite (nghĩa giống như TMT) vì họ mang đến cho công ty nhiều khách hàng hơn, dẫn đến nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN.
Năm 2013, Moorman báo cáo kết quả một khảo sát cho thấy giá trị của bộ phận marketing mang lại cho công ty vẫn còn là một thách thức lớn đối với các CMO, trong đó có 66% các CMO trả lời rằng họ phải chịu áp lực của giám đốc điều hành (CEO) và hội đồng quản trị về bằng chứng giá trị thực sự bộ phận marketing mang lại cho công ty.
Bằng cách sử dụng dữ liệu của 155 DN từ năm 2000 - 2011, đồng thời sử dụng nhiều mô hình phân tích khác nhau, tác giả khẳng định sự hiện diện của CMO làm tăng các lợi ích tài chính cho DN. Các tác giả cũng sử dụng chỉ số Tobins q để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DN, theo đó, các DN thuê CMO có hiệu quả kinh doanh cao hơn 15% so với các DN không thuê. Kết quả này đã khẳng định vai trò của CMO và phủ nhận các tranh cãi của các nhà nghiên cứu và quản trị trước đây.
Một phát hiện khác của nghiên cứu chỉ ra rằng, nếu số nhân viên của một DN tăng lên thì số lượng thành viên trong nhóm TMT cũng tăng, dẫn đến vai trò của CMO trong việc ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược của DN ngày càng giảm.
Nghiên cứu cũng xác nhận, nếu nhiệm kỳ của CEO càng lâu thì vai trò ảnh hưởng của CMO càng giảm. Rủi ro hệ thống sẽ giảm khi tăng trưởng doanh số tăng trong trường hợp CMO hiện diện trong nhóm TMT sử dụng chiến lược khác biệt hóa.
Nghiên cứu khảo sát quyền lực của bộ phận marketing tại 612 DN của Mỹ trong giai đoạn 1993 - 2008 cho thấy, quyền lực của bộ phận marketing tăng theo thời gian, làm tăng thu nhập cổ đông của công ty trong tương lai dài hạn thông qua việc tác động tích cực đến chỉ số thu nhập trên tài sản trong ngắn hạn. Tuy nhiên, khi ứng dụng vào thực tiễn cần lưu ý:
- Nếu chỉ đơn giản tuyển dụng CMO vào nhóm TMT của DN, sẽ không nhận được sự cải thiện về mặt hiệu quả kinh doanh. CMO chỉ có vai trò làm tăng hiệu quả kinh doanh của DN khi DN thực sự hướng đến thị trường.
- Các CMO thường gặp không ít khó khăn để chứng minh giá trị của họ so với các chức danh khác trong nhóm TMT, điển hình là nhiệm kỳ của họ trung bình khoảng 2 năm so với 5 năm của CEO. Các nghiên cứu cho thấy, sự hiện diện của họ có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của DN.
- Những nhà lãnh đạo cấp cao nên tìm cách làm tăng quyền lực của bộ phận marketing trong nhóm TMT vì nó không những đóng góp tích cực vào giá trị của các bên liên quan trong dài hạn mà còn tăng lợi nhuận trong ngắn hạn.
- Các nhà quản trị nên tập trung phát triển và xây dựng tài sản vô hình dựa trên thị trường của DN, đó chính là việc am hiểu và nắm giữ khách hàng.
Đối với các DN Việt Nam, vai trò của bộ phận marketing nói chung và CMO nói riêng cần phải được nhìn nhận ở tầm chiến lược cao nhất của ban lãnh đạo DN. Các DN Việt đang chuyển từ hướng gia công sản xuất sang hướng thị trường thì năng lực lõi của DN là marketing.

Cùng bạn khám phá về CEO và chuyện "lựa lời" xin lỗi

Khi CEO Scott Thompson của Yahoo! Inc. gửi lời xin lỗi liên quan đến vụ khai man bằng cấp trong hồ sơ lý lịch của mình năm 2012, ông không thừa nhận đây là “lỗi lầm” mà chỉ là sự “lơ là” và cam kết sẽ “tiếp tục tiến lên phía trước”. Các giáo sư đã chấm điểm lời xin lỗi của Thompson là zero. Thế nhưng, giá cổ phiếu Yahoo! đã tăng lên trong nhiều ngày sau đó, dù rằng Thompson cuối cùng đã từ chức.
Khi xảy ra một sự cố truyền thông như nhà điều hành doanh nghiệp vướng vào một vụ bê bối hay sản phẩm công ty bị lỗi, các chuyên gia xử lý khủng hoảng thường khuyên khách hàng của mình phải làm ngay một việc. Đó là nói lời xin lỗi, với tất cả sự chân thành.
Ông Gene Grabowski - người từng đạt danh hiệu Chuyên gia Xử lý Khủng hoảng truyền thông của năm - đã yêu cầu CEO của các doanh nghiệp mà ông tư vấn phải đọc các điểm chính 3 lần: một lần đọc to, một lần đọc cho mình nghe và đọc to thêm một lần nữa. Mục đích là làm sao cho lời xin lỗi nghe thật tha thiết và chân thành.
“Mấu chốt là cảm nhận được các thông điệp muốn chuyển tải, chứ không chỉ là tường thuật chúng”, ông nói. Ông Grabowski là người tư vấn cho hãng sản xuất kem Mỹ Blue Bell Creameries cách thức xin lỗi sau một cơn bùng nổ vi khuẩn hình que gây chết người vào tháng 4 vừa qua.
Các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán lại có cảm xúc riêng về lời xin lỗi của doanh nghiệp, theo một nghiên cứu mới đây của 2 vị giáo sư đối với hơn 100 lời xin lỗi doanh nghiệp trong 3 thập niên qua cho đến hết năm 2012. Và kết quả nghiên cứu khá bất ngờ. Họ đã khám phá ra rằng những doanh nghiệp đưa ra lời xin lỗi thống thiết nhất lại cũng là những doanh nghiệp chứng kiến giá cổ phiếu của họ giảm sâu nhất trong tuần tiếp theo đó.
“Công ty càng thể hiện sự tha thiết, đồng cảm, càng cam kết giải quyết vụ việc đến nơi đến chốn bao nhiêu thì họ càng bị thị trường quay lưng bấy nhiêu”, Giáo sư Daryl Koehn - chuyên gia nghiên cứu về đạo đức học thuộc Đại học DePaul - nói về nghiên cứu của bà cùng với Maria Goranova - Giáo sư về quản trị tại Đại học Wisconsin.
Cả 2 đã xem xét một lượng cơ sở dữ liệu lớn từ vụ thu hồi những viên thuốc Tylenol bị nhiễm độc năm 1982 cho đến câu “lỡ miệng” nổi tiếng “Tôi muốn cuộc sống trở lại như ngày trước” của Tony Hayward - CEO hãng dầu mỏ Anh BP - sau sự cố tràn dầu tại vịnh Mexico năm 2010.
Các giáo sư đã xếp hạng các lời xin lỗi theo thang điểm về mức độ hoàn hảo. Họ đánh giá một lời xin lỗi hoàn hảo là lời xin lỗi bao gồm những yếu tố sau: thừa nhận trách nhiệm, ghi nhận những tổn hại gây ra, cho thấy sự khôn ngoan, đích thân đưa ra lời xin lỗi một cách kịp thời, thể hiện sự đồng cảm với các nạn nhân và cam kết giải quyết vụ việc đến nơi đến chốn.
Không lời xin lỗi nào trong cơ sở dữ liệu của họ được xếp hạng là hoàn hảo và chỉ 3 lời xin lỗi nhận được điểm cao thứ 2 sau điểm cao nhất. Trong đó, một lời xin lỗi là từ hãng phần mềm Mỹ Intuit. Vị CEO của công ty này là Brad Smith đã viết “tâm thư” cho các khách hàng vào năm 2010 “để gửi lời xin lỗi sâu sắc vì nỗi đau” mà Công ty đã gây ra cho họ sau một sự cố ngưng hoạt động làm tê liệt các phần mềm nổi tiếng như Quicken và TurboTax. Tha thiết là thế, nhưng giá cổ phiếu của Intuit đã giảm 4% trong tuần tiếp theo.
Khi CEO Scott Thompson của Yahoo! Inc. gửi lời xin lỗi liên quan đến vụ khai man bằng cấp trong hồ sơ lý lịch của mình năm 2012, ông không thừa nhận đây là “lỗi lầm” mà chỉ là sự “lơ là” và cam kết sẽ “tiếp tục tiến lên phía trước”. Các giáo sư đã chấm điểm lời xin lỗi của Thompson là zero. Thế nhưng, giá cổ phiếu Yahoo! đã tăng lên trong nhiều ngày sau đó, dù rằng Thompson cuối cùng đã từ chức.
Điều mà các giáo sư đã hy vọng rằng sẽ chứng minh được qua cuộc nghiên cứu là nhà đầu tư đánh giá cao những lời xin lỗi chân thành nhất. Nhưng thay vào đó, các tài liệu được tìm thấy với những chứng cứ thuyết phục nhất lại là nhà đầu tư phản ứng tiêu cực đối với những lời xin lỗi như vậy. Còn các CEO nhận ra vấn đề và nhận trách nhiệm đối với sự cố nhưng lại đưa ra lời xin lỗi qua loa thì lại chứng kiến mức tăng nhẹ trong giá cổ phiếu công ty họ.
Một lý do mà sự tha thiết có thể khiến nhà đầu tư bực bội là nó thường được xem như một đặc tính của phụ nữ hoặc biểu hiện của sự yếu đuối, theo các nhà nghiên cứu. Tất cả các lời xin lỗi mà họ nghiên cứu đều từ các CEO là nam giới. Một báo cáo năm 2007 về các đợt bổ nhiệm CEO cho thấy giá cổ phiếu công ty giảm mạnh hơn khi CEO mới nhậm chức là một phụ nữ.
Một lời giải thích khác cho phản ứng trên của thị trường, theo Koehn là “nếu bạn thể hiện tất cả sự thống thiết, đồng cảm và mối dây liên kết với người nghe, thị trường chứng khoán có thể cho rằng: “Sắp tới công ty sẽ làm gì đó và sẽ tốn kém lắm đây”.
Nhưng dù rủi ro thị trường là gì đi chăng nữa thì trong một thời đại mà bất cứ ai có điện thoại di động đều có thể “loan tin” những việc làm sai của công ty đi khắp nơi, chẳng có gì có thể thay thế được lời xin lỗi, theo Richard Levick - một chuyên gia về truyền thông chuyên tư vấn cho các ngân hàng phố Wall. Ông hay nói với khách hàng của mình rằng lời xin lỗi là cách nói ít tốn tiền.
Levick dẫn chứng một nghiên cứu năm 2009 của Đại học Nottingham School of Economics. Nghiên cứu này cho thấy một lời xin lỗi đối với các khách hàng đang bất mãn có hiệu quả hơn so với bồi thường bằng tiền mặt. Chỉ 23% khách hàng đồng ý rút đơn khiếu nại đổi lấy tiền bồi thường, trong khi 45% rút đơn sau khi công ty nói lời xin lỗi. “Trước khi trở thành cổ đông, trước khi là người tiêu dùng, chúng ta đều là những con người”, Levick nói.
Do công ty sản xuất kem Blue Bell không giao dịch đại chúng nên không có cách nào đánh giá được phản ứng của nhà đầu tư đối với lời xin lỗi thu hồi sản phẩm của công ty này vào đầu năm nay. Nhưng theo Giáo sư Koehn, khách hàng vẫn yêu thích thương hiệu này. Bằng chứng là khi sản phẩm của Blue Bell có mặt trở lại tại các cửa hàng vào mùa hè năm nay, khách hàng vẫn xếp hàng để mua. Phản ứng này có thể giúp chứng minh một luận điểm khác, theo Koehn, là “thị trường có thể phản ứng không đồng điệu với phần đông dân chúng”.

Chia sẻ cùng bạn 7 bài học thành công từ ông chủ Oracle

Oracle dưới thời Larry đã khởi xướng một vụ kiện lớn với Google, cáo buộc bộ máy tìm kiếm lớn nhất thế giới này sử dụng trái phép Java khi phát triển và xây dựng Android. Vào năm 2013, trong cuộc đối thoại với các nhà phân tích của Wall Street, Larry Ellison tự tin khẳng định rằng Oracle đang làm tốt hơn đối thủ SAP và Workday rất nhiều, đồng thời cho biết mảng điện toán đám mây của Oracle trị giá tầm 1 tỷ đô, lớn hơn cả SAP và Workday cộng lại.
Dheeraj Pandey đã từng là nhân viên tại Oracle. Chỉ sau vài năm làm việc tại đây, Pandey đã thu được những kinh nghiệm điều hành bổ ích từ Ellison. Sau khi trở thành CEO kiêm nhà đồng sáng lập của Nutanix - công ty dẫn đầu trong việc tạo ra dòng sản phẩm “siêu hội tụ” giúp đưa các dịch vụ lưu trữ, máy chủ và ảo hóa vào một thiết bị tích hợp, người nhân viên Oracle ngày nào đã nghiêm túc áp dụng những bài học đó vào công việc. Vào năm 2014, sau 4 năm đi vào hoạt động, Nutanix đã huy động được nguồn vốn trị giá 312,2 triệu đô la và là một trong những công ty startup được kỳ vọng sẽ mang về doanh thu hàng tỷ đô trong năm 2015.
Pandey cho biết: “Cách mà Larry Ellison xây dựng công ty luôn mang tầm chiến lược, và tôi đã học hỏi được rất nhiều không chỉ ở cách điều hành mà còn ở cách xây dựng văn hóa với một tính cách mạnh mẽ”.
Dheeraj Pandey - CEO, đồng sáng lập Nutanix doanhnhansaigon
Nhờ những bài học từ Larry Ellison, Dheeraj Pandey - CEO, đồng sáng lập Nutanix đã kiếm được 2 tỷ USD sau 6 năm kinh doanh
Dưới đây là những chia sẻ của Pandey về những điều ông đã học được từ Ellison và lãnh đạo công ty gặt hái thành công:

Larry Ellison, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công nghệ của Oracle.
1. Không nhân nhượng với đối thủ
Larry Ellison được xem là thủ lĩnh “máu lạnh” của Oracle, bởi ông thường không ngần ngại đe dọa, chê bai đối thủ công khai trên các phương tiện truyền thông, thậm chí kiện đối thủ ra tòa.
Oracle dưới thời Larry đã khởi xướng một vụ kiện lớn với Google, cáo buộc bộ máy tìm kiếm lớn nhất thế giới này sử dụng trái phép Java khi phát triển và xây dựng Android. Vào năm 2013, trong cuộc đối thoại với các nhà phân tích của Wall Street, Larry Ellison tự tin khẳng định rằng Oracle đang làm tốt hơn đối thủ SAP và Workday rất nhiều, đồng thời cho biết mảng điện toán đám mây của Oracle trị giá tầm 1 tỷ đô, lớn hơn cả SAP và Workday cộng lại.
Gần đây, trong năm 2015, tại hội thảo công nghệ của hãng tại San Francisco, Larry lại tự tin phát biểu: “IBM và SAP là hai đối thủ nặng ký nhất, nhưng giờ chúng tôi không còn để ý đến họ nữa”.
2. Có “niềm tin không nao núng” vào chiến lược của mình
Oracle dưới sự quản lý của Larry Ellison từng thực hiện một trong những vụ thâu tóm lớn nhất lịch sử công nghệ khi chi 10,3 tỷ USD cho PeopleSoft. Bộ Tư pháp ở Mỹ đã gửi đơn kiện dân sự theo Luật Chống độc quyền nhằm ngăn cản Oracle mua lại đối thủ kinh doanh, 7 bang ở Mỹ đã tham gia vụ kiện và khẳng định vụ sáp nhập này sẽ phá vỡ thế cạnh tranh giữa 2 nhà cung cấp phần mềm quản lý tài chính doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, Lary Ellison đã đứng lên chống lại những cáo buộc trên, trải qua 18 tháng đàm phán gay go, cuối cùng đã giành chiến thắng, giúp Oracle mua lại thành công Peoplesoft với giá 26,5 USD/cổ phiếu, tương đương 10,3 tỷ USD.
3. Không sợ nuôi dưỡng các phần tử “nổi loạn”
Theo Pandey, Ellison không bao giờ muốn ở xung quanh những người chỉ biết nói “đồng ý”. Những nhà điều hành kỳ cựu trước đây của công ty bao gồm Marc Benioff của Salesforce, Tom Siebel của Siebel Systems, Craig Conway của PeopleSoft và cựu Chủ tịch HP Ray Lane.
“Tất cả những nhân sự này cuối cùng đều cạnh tranh với Oracle, nhưng nếu không có họ, Oracle sẽ không thể trở thành một Oracle mà chúng ta biết ngày hôm nay”, Pandey khẳng định.
4. Để mình bị “ám ảnh” bởi sản phẩm của công ty
Lần đầu tiên vào 30 năm trước, Ellison đã đưa ra ý tưởng về hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu Oracle, và cho tới ngày nay, ông vẫn giữ vai trò giám đốc công nghệ của công ty, tham gia vào quá trình phát triển phần mềm quản trị dữ liệu của Oracle cùng nhiều sản phẩm khác.
Ellison luôn hướng tầm nhìn của mình về tương lai của ngành công nghệ nói chung và của Oracle nói riêng vào các sản phẩm của Oracle, ví dụ như thiết kế phần mềm dữ liệu thân thiện với internet vào những năm 1990, và thiết kế lại để tương thích với công nghệ điện toán đám mây vào những năm sau đó.
5. Làm việc chặt chẽ với những người trực tiếp “sản xuất”
“Khi công ty lớn mạnh, thật dễ dàng để ủy thác việc xây dựng mối quan hệ cho những người quản lý, rồi quản lý của quản lý, như vậy là 4 cấp độ. Điều này khiến cho rất nhiều kỹ sư chuyên gia, người xây dựng và sáng tạo sản phẩm cảm thấy mất đi tiếng nói”, Pandey nói.
Oracle đã từng có một đội ngũ với tên gọi “Oracle Red”, bao gồm các kỹ sư đã gắn bó hàng thập kỷ với công ty, Ellison biết cách gạt bỏ khoảng cách về cấp bậc để tiếp cận với những nhân tài trong công ty, đặc biệt là đội ngũ xây dựng và sáng tạo sản phẩm.
6. Hứng thú với những thị trường lớn và khó
Trong những thị trường đã được Oracle “chinh phạt”, Larry Ellison thấu hiểu thị trường Nhật Bản và Trung Quốc tốt hơn bất kể một công ty nào khác, kể cả Microsoft.
Nhật Bản là một thị trường thành công của Oracle, và đây cũng là một đất nước được Larry Ellison đặc biệt yêu thích. Vào năm 2000, ngay sau sự cố internet toàn cầu và khó khăn về tài chính tại Mỹ, chi nhánh Nhật Bản của Oracle vẫn huy động được 7,5 tỷ đô trên sàn chứng khoán Tokyo.
7. Sẵn sàng nhún nhường và thay đổi chiến lược
Ellison từng thay đổi quan điểm rất nhiều lần, và lần gần đây nhất ông đã đưa sản phẩm của Oracle vào thị trường điện toán đám mây trong khi trước đó đã chê bai và gạt ý tưởng này đi.
Ông từng chuyển từ quan điểm “only built here” (tạm dịch là “chỉ có ở đây”) sang những thương vụ M&A đầy tham vọng, chuyển từ việc hỗ trợ hệ điều hành Unix sang Linux. Ông thậm chí còn hợp tác với Microsoft, đối thủ cạnh tranh lâu năm và củng cố lại mối quan hệ với CEO của Salesforce - Marc Benioff, khách hàng đồng thời là đối thủ lớn của Oracle.

Cùng bạn tìm hiểu về 5 yếu tố cần có ở CEO

Bạn phải luôn là chính mình, bởi vì sự chuyên nghiệp và phong cách cá nhân luôn được đánh giá cao. Giống như rất nhiều những nữ lãnh đạo khác, tôi cũng chỉ là một người vợ, một người mẹ, một người chị gái, một người bạn,… nhưng để là một CEO, tôi biết rằng mình phải có một tác phong điều hành khác biệt.
Sau 21 năm làm việc tại nhiều bộ phận ở Ngân hàng JPMorgan Chase, đầu năm nay, Jennifer Piepszak trở thành CEO của Chase Business Banking. Từ quá trình điều hành Chase Business Banking, Jennifer Piepszak cho rằng, bất kỳ một CEO nào cũng cần phải trang bị cho mình 5 yếu tố sau đây:
1. Tin tưởng vào chính mình
Nghi ngờ bản thân không bao giờ là một giải pháp tốt, đặc biệt là khi mọi người đều đang đặt nhiều kỳ vọng vào bạn. Nếu bạn cần thêm sự tự tin, hãy gặp gỡ, trao đổi với những người mình tin tưởng nhất. Họ sẽ giúp bạn nhận ra mình đang sở hữu những “vũ khí” gì để đương đầu với thử thách trước mắt.
2. Tìm kiếm phản hồi
Cách tốt nhất để hiểu về một cái gì đó là hãy bước ra khỏi văn phòng và tìm hiểu về nó. Tôi có mặt ở khắp mọi nơi để lắng nghe phản hồi của mọi người. Việc này giúp tôi có một sự định hình rõ ràng về những thế mạnh cũng như cơ hội trong hành trình lèo lái con thuyền kinh doanh.
3. Có phong cách riêng
Bạn phải luôn là chính mình, bởi vì sự chuyên nghiệp và phong cách cá nhân luôn được đánh giá cao. Giống như rất nhiều những nữ lãnh đạo khác, tôi cũng chỉ là một người vợ, một người mẹ, một người chị gái, một người bạn,… nhưng để là một CEO, tôi biết rằng mình phải có một tác phong điều hành khác biệt.
4. Tìm kiếm “quân sư”
Bạn phải sẵn sàng tìm kiếm sự giúp đỡ và có thái độ cởi mở để đón nhận thông tin phản hồi. “Quân sư” là những người biết nói thẳng, nói thật với bạn, giúp bạn nhìn thấy những “điểm mù” và nhận dạng những trở ngại trước mắt. Tuy nhiên, họ cũng phải là người có cái nhìn khách quan để thấy được cả những mặt tích cực của vấn đề.
5. Dũng cảm ra quyết định
Trở thành CEO, bạn luôn phải là người ra quyết định. Do đó, hãy chuẩn bị tâm thế đối diện với những quyết định sai lầm, không ngại thay đổi và khắc phục điểm yếu để bước tiếp. Giống như ngôi sao truyền hình Tina Fey cũng từng có câu nói nổi tiếng: “Đừng sợ hãi giống như đứa bé đứng trên đỉnh cầu trượt, hãy cứ lao xuống đi”.

Chia sẻ cùng bạn về tư duy thiết kế nhìn từ cuộc chiến giữa Coca-Cola và PepsiCo

Đó là vào năm 2008, khi PepsiCo bỗng dưng ra mắt bộ nhận diện thương hiệu trong đó chiến thuật là đưa tất cả sản phẩm và truyền thông vào một thiết kế súc tích. Hơn nữa, hệ thống nhận diện đơn giản và tươi mới này phù hợp với chiến lược của nhãn hàng, đó là luôn tập trung vào khách hàng trẻ tuổi. Điều gì đã xảy ra, tôi tự hỏi, để giải thích cho sự dịch chuyển bất ngờ này?
Sáng tạo là kỹ năng có thể được cải thiện và phát triển. Hơn thế nữa, đây là yếu tố cần thiết xuyên suốt quá trình kinh doanh. Câu chuyện từ Coca-Cola và PepsiCo là một ví dụ sinh động cho vấn đề này.
Lần đầu tiên tôi nhận thấy cuộc chiến giữa các thương hiệu hàng đầu là Coca-Cola và PepsiCo và việc sử dụng thiết kế như một vũ khí chiến thuật là vào năm 1970, khi tôi còn đang là thành viên trẻ nhất trong đội thiết kế của Lippincott & Margulies – một công ty có trụ sở tại New York và đi đầu trong lĩnh vực xây dựng thương hiệu.
“Chiến tranh” thương hiệu
Chúng tôi đã dành ra những tháng cực kỳ thú vị để tạo ra một hệ thống thiết kế kết hợp giữa logo chữ mang tính biểu tượng và màu sắc đỏ tươi sáng, gia tăng sức hút cho chúng bằng một hình ảnh ấn tượng, lấy cảm hứng từ vỏ chai cong cổ điển, rồi đưa diện mạo mới này vào “chiến trường” marketing.
Mọi thứ có liên quan tới Coca-Cola đều được sắp xếp theo thứ tự hoàn hảo, từ cốc giấy đến máy bán hàng tự động, từ nắp chai đến xe tải chở hàng, từ phim quảng bá đến biển quảng cáo. Nhìn lại, hành động này có lẽ mang tính chiến thuật hơn là chiến lược của một tổ chức.
PepsiCo - đối thủ chính trong ngành giải khát của Coca-Cola, trông có vẻ như một kẻ vô kỷ luật khi được mang ra so sánh. Trong những năm sau đó, Pepsi đã triển khai những chiến dịch truyền thông tiếp thị mạnh mẽ được vũ trang bằng âm nhạc và giải trí – những thứ thu hút được giới trẻ.
Cả hai thương hiệu đã “ghi bàn” tại những chiến trường khác như nước trái cây, nước tinh khiết, cà phê, trà và bim bim, nhưng Coca-Cola lúc nào nhìn cũng như một quân đoàn – nếu xét từ khía cạnh thiết kế. Bất kể khi nào PepsiCo chắp vá qua loa bộ đồng phục thương hiệu, việc đó lại được thực hiện một cách không đồng nhất, thông thường những sản phẩm với chiếc áo bóng bẩy diễu hành qua từng lần vận chuyển trong xe tải, qua nhiều thập kỷ và nhanh chóng trở nên hết thời.
PepsiCo ra mắt cuộc tấn công thiết kế
Đó là vào năm 2008, khi PepsiCo bỗng dưng ra mắt bộ nhận diện thương hiệu trong đó chiến thuật là đưa tất cả sản phẩm và truyền thông vào một thiết kế súc tích. Hơn nữa, hệ thống nhận diện đơn giản và tươi mới này phù hợp với chiến lược của nhãn hàng, đó là luôn tập trung vào khách hàng trẻ tuổi. Điều gì đã xảy ra, tôi tự hỏi, để giải thích cho sự dịch chuyển bất ngờ này?
Các trận đấu trên chiến trường thường là trận chiến giữa những người đi đầu trong các phe đối lập. Hai năm trước khi bộ nhận diện thương hiệu mới được ra mắt, cựu Giám đốc Tài chính và Chủ tịch của Pepsi - bà Indra Nooyi - đã trở thành CEO của tập đoàn mẹ của Pepsi (PepsiCo), vẫn giữ vị trí chủ tịch và những năm sau trở thành Chủ tịch hội đồng quản trị.
Nooyid từng đảm nhận vị trí chuyên gia tư vấn chiến lược tại Boston Consulting Group (BCG), một động lực giúp bà thực hiện nhiều cải thiện về những ngụ ý sức khoẻ của sản phẩm PepsiCo. Kinh nghiệm đó cũng dẫn dắt bà đến một tư tưởng về vai trò của thiết kế trong tổ chức của mình.
Nooyi phát hiện ra rằng, rất ít công ty thực sự biết rằng thế nào là một thiết kế tốt. Vào năm 2012, bà đã chiêu dụ được nhà thiết kế người Ý Mauro Porcini từ vị trí vững chắc của anh tại 3M – nơi mà anh đã gây dựng nên những trụ sở thiết kế ở cả Ý và Mỹ.
Thời điểm đó, PepsiCo thiếu những nguồn lực cần thiết của một trụ sở thiết kế chức năng. Các thiết kế và nhân viên thiết kế phụ thuộc vào bất cứ điều gì mà công ty phụ trách cho hoạt động kinh doanh, từ đài phun nước và máy bán hàng tự động của thương hiệu Pepsi đến hầm ủ của 11 thương hiệu toàn cầu khác.
Trung tâm thiết kế PepsiCo và tư duy thiết kế
Porcini muốn có phương tiện để thay đổi cục diện của PepsiCo. Anh muốn một trung tâm thiết kế với nhân lực và thiết bị cần thiết cho việc tạo lập khả năng phát triển chiến lược thống lĩnh thị trường bằng nền tảng tư duy thiết kế và thực hiện chúng. Anh cũng muốn một vị trí chính thức trong ban giám đốc. Với cương vị Giám đốc thiết kế (Chief Design Officer), anh đã có được điều đó.
Các chuyên viên thiết kế mang đến những kỹ năng hoàn toàn khác biệt so với các chuyên viên tài chính, marketing, nghiên cứu và phát triển. Sản xuất và những ngành kinh tế khác thường thu được lợi ích từ suy nghĩ khách quan và logic. Tất cả các hoạt động thiết kế cuối cùng vẫn mang bản chất thiên hướng xã hội. Các mối quan hệ xã hội thiên về tình cảm nhiều hơn logic, vì thế các nhà tư duy thiết kế hẳn một mặt bảo tồn sự mơ hồ bay bổng, mặt khác cam kết trong việc phát triển các giải pháp thực tế trong thế giới thật.
Nhiều thông tin về hoạt động của PepsiCo đã được truyền tải đến tôi và những người can đảm bất chấp thời tiết mưa bão vào một buổi chiều ở New York cách đây vài tuần để tham dự một buổi nói chuyện về sự phát triển mở rộng của thiết kế, được tổ chức bởi Viện Nghệ thuật Đồ họa Mỹ (AIGA).
Người phát biểu là Jeremy DiPalo - một nhà thiết kề và nhà chiến lược làm việc dưới trướng Porcini với vị trí Giám đốc toàn cầu Chiến lược thương hiệu. Bài nói chuyện của Dipalo bắt đầu bằng việc thừa nhận “tư duy thiết kế” là một yếu tố đang ngày càng tác động đến nhiều tổ chức trong thập kỷ qua với ngày càng nhiều lãnh đạo thấu hiểu vai trò của thiết kế không chỉ như một bài tập về gu thẩm mỹ mà còn là cách ứng dụng tư duy và phương thức brainstorm để phát triển những giải pháp thương hiệu độc đáo và nhân văn.
DiPalo nhắc nhở các nhà thiết kế về trách nhiệm của mình, nhằm có sự thấu hiểu vai trò của kinh doanh, không chỉ là môi trường cho “chất nghệ sĩ” mà như một phương tiện để đạt được mục tiêu chiến lược của thương hiệu. Và anh đặc biệt nhấn mạnh những mục tiêu đó không chỉ dựa trên các thước đo thành công thông thường trong kinh doanh, như số lượng bán và doanh thu mà còn bằng thành quả khó mô tả hơn trong tương tác xã hội tại thị trường.
Tại thị trường quốc tế - nơi mà Việt Nam đang muốn nắm một vai trò quan trọng hơn, tầm quan trọng của thiết kế đang được thừa nhận hơn bao giờ hết. Đó vừa là cơ hội, vừa là thách thức để mở “ổ khoá” chuyển động giữa cộng đồng thiết kế và cộng đồng kinh doanh, qua đó cả hai hiểu biết nhiều hơn về sự đóng góp của cộng đồng còn lại đối với mình

Có thể bạn chưa biết 3 câu hỏi giúp nâng cao EQ

Trên thực tế, việc góp ý mang tính xây dựng là cần thiết, nhất là khi sự cố vừa mới xảy ra. Tuy nhiên, bạn đã để lỡ mất thời điểm đó. Phản hồi tiêu cực được đưa ra tại thời điểm này sẽ phủ nhận hoàn toàn những lời khen ngợi của bạn dành cho nhân viên đó, bởi thông điệp sẽ có thể được hiểu chệch hướng rằng, những lời tuyên dương mà bạn nói ra chỉ nhằm làm dịu bớt những lời phê bình.
Justin Bariso – nhà sáng lập Công ty tư vấn truyền thông Insight cho rằng: “Trí tuệ cảm xúc bao gồm sự thấu hiểu, cảm thông và lòng trắc ẩn. Người có EQ cao sẽ dễ dàng tìm ra cách tốt nhất để truyền đạt thông điệp đến với người khác”.
Việc nói quá nhanh đến mức không kịp suy nghĩ là một trong những thói quen xấu phổ biến trong giao tiếp. Theo Justin Bariso, “Phương pháp 3 câu hỏi” sẽ giúp hạn chế thói quen xấu đó, nhờ vậy mà bạn sẽ tránh được trường hợp phải hối tiếc sau khi phát ngôn.
Sau đây là 3 câu hỏi quan trọng nhất mỗi người cần tự vấn trước khi phát ngôn và cách mà nó sẽ giúp cho công việc và cuộc sống của chúng ta trở nên tốt hơn, theo Justin Bariso.
3 điều bạn luôn phải tự hỏi mình trước khi nói bất cứ điều gì:
- Điều này có cần được nói ra?
- Tôi có cần phải là người nói ra điều này?
- Tôi có cần phải nói ra điều này ngay bây giờ?
Ví dụ, bạn là một nhà lãnh đạo và luôn muốn có sự gắn kết với nhân viên cấp dưới. Bạn phát hiện ra một nhân viên đã hoàn thành xuất sắc một nhiệm vụ và muốn tận dụng cơ hội để khen ngợi. Nhưng rồi đột nhiên bạn nhớ ra rằng cách đây vài tuần, cũng chính nhân viên này đã mắc một sai lầm khá trầm trọng, và bạn cũng muốn nhân cơ hội này để nhắc nhở họ.
Lúc này, hãy dừng lại và tự hỏi bản thân: "Liệu điều này có cần được nói ra? Tôi có cần phải là người nói ra? Tôi có cần phải nói ra ngay lúc này?".
Trên thực tế, việc góp ý mang tính xây dựng là cần thiết, nhất là khi sự cố vừa mới xảy ra. Tuy nhiên, bạn đã để lỡ mất thời điểm đó. Phản hồi tiêu cực được đưa ra tại thời điểm này sẽ phủ nhận hoàn toàn những lời khen ngợi của bạn dành cho nhân viên đó, bởi thông điệp sẽ có thể được hiểu chệch hướng rằng, những lời tuyên dương mà bạn nói ra chỉ nhằm làm dịu bớt những lời phê bình.
Trong trường hợp tự hỏi 3 câu hỏi cốt lõi trên trước khi quyết định, nhiều khả năng bạn sẽ đi đến một trong các kết luận là:
- “Suy cho cùng thì những lời phê bình tôi định nói ra không quá quan trọng, thậm chí quan điểm của tôi về vấn đề tiêu cực này cũng có thể sẽ thay đổi”.
- “Sẽ tốt hơn nếu tôi nói chuyện với người quản lý trực tiếp của nhân viên đó trước, vì rất có thể những điều tôi thấy chưa thật sự phản ánh hết toàn bộ sự việc”.
- “Tôi chắc chắn phải nói chuyện với nhân viên đó về sai lầm của họ, nhưng bây giờ chưa phải là thời điểm thích hợp. Tôi sẽ sắp xếp một cuộc nói chuyện với anh/cô ấy sau khi tôi đã chuẩn bị tốt hơn”.
Đây chính là một trong những trường hợp điển hình cho thấy “phương pháp 3 câu hỏi” đã phát huy tốt tác dụng. Nếu tất cả thành viên trong một công ty/tổ chức đều thực hiện phương pháp này, tần suất xuất hiện những email khiển trách, những cuộc họp ngắn, những lời phàn nàn về đồng nghiệp… sẽ ít hơn rất nhiều.
Tuy nhiên, khi gặp phải trường hợp mà phần trả lời cho cả 3 câu hỏi trên đều là “Có”, bạn cần phải có đủ dũng cảm và sự quyết đoán để nói ra điều mà mình cho rằng quan trọng. Bởi vì chỉ khi ấy mọi việc mới có thể phát triển theo chiều hướng tốt hơn.

Chia sẻ cùng bạn về 3 lời khuyên thành công từ COO Facebook

Từng tốt nghiệp Trường kinh doanh Harvard (với tấm bằng cử nhân và bằng MBA) nhưng theo Sheryl Sandberg, để thành công trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tấm bằng MBA không quá quan trọng. “Kinh nghiệm làm việc thực tế mang đến cho tôi nhiều giá trị tuyệt vời. Những tấm bằng MBA hoàn toàn không cần thiết tại Facebook và tôi cũng không tin rằng chúng giữ vai trò quá đặc biệt khi bạn làm việc trong lĩnh vực công nghệ”, Sheryl Sandberg cho biết trên Quora Q&A.
Mặc dù đang có một sự nghiệp thành công mà nhiều người ao ước, Sheryl Sandberg cho biết, nếu có cơ hội được trò chuyện với chính bản thân mình thời trẻ, bà vẫn có nhiều điều muốn nhắn gửi.
Và 3 lời khuyên của nữ COO Facebook dành cho tuổi trẻ của chính mình là:
- Hãy đi theo tiếng gọi của đam mê, hãy làm những gì bạn yêu thích!
- Hãy tin rằng bạn có thể có tất cả: một sự nghiệp thành công và một cuộc sống ý nghĩa!
- Không hề tồn tại một con đường thẳng dẫn đến nơi mà bạn muốn đến!
Theo Sheryl Sandberg, để đạt được mục tiêu đề ra, cần phải trải qua 2 bước cơ bản: “Đầu tiên, bạn phải có một “giấc mơ dài hạn”. Nó không cần phải rất sát với thực tế hoặc quá cụ thể, bởi vai trò của nó đơn giản là mang lại cho bạn cảm giác được định hướng. Thứ hai, bạn phải có một kế hoạch trong 18 tháng. Trong quá trình thiết lập những mục tiêu cụ thể cho kế hoạch này, hãy tự hỏi bản thân rằng, bạn sẽ làm thế nào và bạn sợ phải làm gì. Thông thường, những điều bạn sợ lại chính là những điều đáng để thử nhất”.
Từng tốt nghiệp Trường kinh doanh Harvard (với tấm bằng cử nhân và bằng MBA) nhưng theo Sheryl Sandberg, để thành công trong lĩnh vực công nghệ thông tin, tấm bằng MBA không quá quan trọng. “Kinh nghiệm làm việc thực tế mang đến cho tôi nhiều giá trị tuyệt vời. Những tấm bằng MBA hoàn toàn không cần thiết tại Facebook và tôi cũng không tin rằng chúng giữ vai trò quá đặc biệt khi bạn làm việc trong lĩnh vực công nghệ”, Sheryl Sandberg cho biết trên Quora Q&A.
Không phủ nhận những lợi ích mà tấm bằng MBA mang lại, Sheryl Sandberg nhận định, nó đã mang đến cho bà những kiến thức cơ bản về kinh doanh và có thể là công cụ hữu ích cho “một số người trong một số hoàn cảnh”, nhưng COO Facebook cũng bác bỏ quan điểm cho rằng bằng MBA là “chìa khóa” để mở cánh cửa bước vào một công ty lớn như Facebook.
COO Facebook lấy ví dụ về tiêu chí tuyển dụng tại trang mạng xã hội lớn nhất hành tinh: “Trong quá trình tuyển dụng tại Facebook, điều chúng tôi quan tâm là ứng viên có thể làm được gì. Chúng tôi không tìm kiếm những ứng viên có sơ yếu lý lịch ấn tượng mà tìm kiếm những người có kỹ năng phù hợp với sứ mệnh và giá trị cốt lõi của chúng tôi, đó là xây dựng một thế giới mở và tăng cường tính kết nối cho tất cả mọi người”.

Cùng tìm hiểu về "Điểm trừ" của công ty gia đình

May mắn và cũng là người có bản lĩnh nên sau khi chia tay, ông Cao Siêu Lực đã gầy dựng lại cơ nghiệp với thương hiệu bánh ngọt ABC. Và hiện nay, không chỉ vượt qua thời điểm hoàng kim của Đức Phát khi xưa, ABC đã phát triển không chỉ trong nước mà còn vươn ra nước ngoài. Bên cạnh hệ thống cửa hàng trong nước, ABC đã mở các cửa hàng ở Campuchia.
Sự việc bắt đầu từ lá thư của Giám đốc Phát triển kinh doanh Việt Nam Nguyễn Hoàng Hiệp - đại diện Công ty CP Tập đoàn Trung Nguyên gửi các nhà phân phối, khách hàng ngày 20/11 thông báo tạm ngưng cung cấp các sản phẩm thuộc nhóm hàng hòa tan do "nhu cầu bảo trì máy móc, thiết bị, dây chuyền của các nhà máy trực thuộc Công ty". Nhưng thông tin ngoài lề cho rằng đang có mâu thuẫn trong nội bộ Công ty mà cụ thể là vợ chồng ông Đặng Lê Nguyên Vũ và bà Lê Hoàng Diệp Thảo đang trong quá trình ly hôn và tranh chấp về quyền kiểm soát doanh nghiệp.
Ngày 2/12, Trung Nguyên phát thông báo thứ 2 cho biết, "việc bảo trì máy móc, thiết bị và nâng cấp dây chuyền sản xuất tại các nhà máy sản xuất cà phê hòa tan G7 đã hoàn thành sớm trước thời gian dự kiến". Vì thế, "khách hàng yên tâm tiếp tục đặt hàng và tin dùng các sản phẩm cà phê hòa tan G7 để phục vụ cho nhu cầu kinh doanh của thị trường".
Chưa biết thực hư thế nào và kết quả câu chuyện gia đình của "cặp đôi quyền lực" của Trung Nguyên sẽ đi đến đâu nhưng hiện tại, những thông tin về sự việc này đã lan truyền nhanh chóng trên truyền thông. Và dĩ nhiên, đi kèm với những thông tin về sự đổ vỡ của gia đình ông Vũ là những bình luận không tốt về Trung Nguyên.
Chưa hết, những thông tin xấu của đối thủ đánh vào Trung Nguyên cũng nhân dịp này "tung hoành" trên các kênh truyền thông không chính thống. Đây là những điều bất lợi mà không doanh nhân nào muốn xảy ra với doanh nghiệp của mình, nhất là đối với thương hiệu cà phê được coi là đại diện của cà phê Việt Nam hiện nay.
Trước Trung Nguyên nhiều năm, câu chuyện gia đình của doanh nghiệp tư nhân Đức Phát cũng khiến dư luận tiếc nuối. Khi Đức Phát đang ở đỉnh cao phát triển thì vợ chồng ông Cao Siêu Lực "đường ai nấy đi". Ông Lực đã để Đức Phát cho vợ quản lý và bắt đầu một hành trình mới cùng với các con.
May mắn và cũng là người có bản lĩnh nên sau khi chia tay, ông Cao Siêu Lực đã gầy dựng lại cơ nghiệp với thương hiệu bánh ngọt ABC. Và hiện nay, không chỉ vượt qua thời điểm hoàng kim của Đức Phát khi xưa, ABC đã phát triển không chỉ trong nước mà còn vươn ra nước ngoài. Bên cạnh hệ thống cửa hàng trong nước, ABC đã mở các cửa hàng ở Campuchia.
Hiện tại, Đức Phát là một trong những nhà cung cấp bánh ngọt cho những thương hiệu thức ăn nhanh lớn đang có mặt tại Việt Nam. Không chỉ vậy, cơ sở bánh ngọt của ABC cũng là vệ tinh cho nhiều thương hiệu bánh Trung thu có tiếng tại TP.HCM trong những năm qua.
Không ai phủ nhận vai trò của các công ty gia đình đối với nền kinh tế Việt Nam vì mô hình này đang chiếm đến hơn phân nửa số doanh nghiệp đang hoạt động tại nước ta. Tuy nhiên, bên cạnh những thế mạnh công ty gia đình mang lại cũng có nhiều vấn đề về mô hình này cần phải khắc phục.
Trong một cuộc gặp gỡ của các thành viên Câu lạc bộ LBC, ông Huỳnh Phước Nghĩa - chuyên gia tư vấn cao cấp của GIBC cho rằng, có 7 vấn đề các công ty gia đình cần giải quyết. Đó là: hoạch định đội ngũ kế thừa, sự ảnh hưởng của cái bóng người sáng lập, xung đột trong công ty gia đình, sử dụng nhà quản lý chuyên nghiệp ngoài gia đình, vai trò của nữ giới trong kế thừa - lãnh đạo doanh nghiệp, giá trị công ty và giá trị gia đình, quản trị và kiến tạo doanh nghiệp.
Cũng theo ông Nghĩa, có rất nhiều nguyên nhân dẫn đến xung đột như quan hệ cha - con, thế hệ con cháu tranh giành quyền lực, thành viên trong gia đình không cùng mục tiêu, sự can thiệp hoặc rủi ro của người ngoài gia đình...
Nguồn gốc của những xung đột này là do sự phân chia trách nhiệm và vai trò không rõ ràng, không công bằng trong hoạch định kế thừa, phân biệt nam - nữ, không minh bạch trong chính sách... Nghiêm trọng nhất của sự xung đột trong các công ty gia đình là xung đột lợi ích giữa các thành viên trong gia đình.
Để giải quyết các xung đột trong các công ty gia đình nhất thiết phải xây dựng bộ hướng dẫn cho các thành viên trong gia đình có liên quan đến công ty về quyền hạn, lợi ích, kế hoạch phát triển cá nhân...
Các công ty gia đình cần thực hiện các chương trình chuyển đổi về quản trị con người như thay đổi văn hóa, phát triển bền vững... "Quan trọng nhất là các công ty gia đình nên xây dựng bộ quy tắc ứng xử liên quan đến công ty và quy tắc ứng xử giữa các thành viên trong gia đình với nhau", chuyên gia Huỳnh Phước Nghĩa tư vấn.

Cùng bạn khám phá về 4 cách sử dụng mạng xã hội vào truyền thông nội bộ

Mạng xã hội hay truyền thông nội bộ giúp nhà lãnh đạo và nhân viên có phương tiện thuận lợi để khen ngợi và nhận những lời tán thưởng của nhau. Ví dụ, Công ty Symantec đã hợp tác với Globoforce để tung ra nền tảng xã hội sau khi sáp nhập, giúp nhân viên chia sẻ văn hóa công ty trong cách làm việc. Kết quả là gần 40% nhân viên đã được công nhận những nỗ lực vào dịp tổng kết cuối năm, khiến mức độ hài lòng của nhân viên tăng thêm 16%.
Một nghiên cứu do Weber Shandwick kết hợp với KRC Research thực hiện cho thấy sau khi trải qua một sự thay đổi tại nơi làm việc (như công ty gặp khủng hoảng, tiến hành M&A, hay có nhân viên bị sa thải…), 55% số người được hỏi cho rằng họ muốn được kết nối mạng xã hội nhiều hơn.
Theo đó, các công ty nên tận dụng truyền thông xã hội (social media) như một công cụ quản lý, đặc biệt trong trường hợp công ty có một sự thay đổi nào đó. Vấn đề là nhà lãnh đạo cần có một kế  hoạch truyền thông nội bộ hợp lý và đầy đủ để tạo ra một "không gian" an toàn cho các nhân viên tiếp cận với những người họ tin tưởng để bày tỏ ý kiến nhằm sớm vượt qua sự xáo trộn trong trong tâm lý và công việc. 
Sau đây là 4 cách để công ty tận dụng tốt công cụ này: 
1. Rút ngắn khoảng cách giữa lãnh đạo và nhân viên
Khi công ty có sự thay đổi, một việc quan trọng mà nhà lãnh đạo cần làm là cho nhân viên thấy được kế hoạch phát triển của công ty đồng thời truyền cảm hứng cho nhân viên để họ tiếp tục công việc của mình.
Phương tiện truyền thông xã hội giúp cuộc đối thoại giữa các cấp, các bộ phận chức năng trong tổ chức trở nên dễ dàng, kịp thời hơn. Nghiên cứu cho thấy việc CEO tham gia mạng xã hội sẽ cho phép nhân viên có nhiều cơ hội để giao tiếp trực tiếp với lãnh đạo. Mặt khác, việc tham gia mạng xã hội cũng giúp các CEO hiểu được những gì đang xảy ra trong công ty.
CEO Zappos Tony Hseih đã công bố sẽ sa thải 8% nhân viên ngay trên blog cá nhân sau khi gửi một email thông báo nội bộ. Động thái này được các nhân viên đánh giá cao vì sự minh bạch của vị lãnh đạo, tạo điều kiện cho nhân viên có một cuộc trao đổi thẳng thắng với Tony trên Twitter.
Cuộc trò chuyện cởi mở đã giúp Zappos có cái nhìn sâu sắc và phương án tốt nhất để xử lý các vấn đề nhạy cảm, có sự khích lệ chu đáo, hỗ trợ tương tác giữa cấp quản lý và các nhân viên. Thậm chí, những nhân viên bị sa thải còn được hỗ trợ để tìm công việc tại công ty khác.
2. Cho nhân viên định hình tương lai
Khi có sự thay đổi trong công việc, mọi nhân viên đều cảm thấy mơ hồ, lo lắng. Lúc này truyền thông nội bộ sẽ là nơi để các nhân viên nêu ý kiến của mình nhằm góp phần định hình các kế hoạch tương lai của công ty, hỗ trợ cho quá trình chuyển đổi. 
CEO Cisco John Chambers từ chức Chủ tịch vào tháng 7/2015 và người thay thế là Chuck Robbins. Hai nhà đồng sáng lập công ty đã gửi lời cảm ơn đến John và đồng thời hỏi ông rằng: “Ông có lời khuyên nào dành cho Chuck Robbins khi ông ấy trở thành CEO kế nhiệm không?”. Trong vòng 4 ngày, hai bài viết trên mạng truyền thông nội bộ đã nhận được 1.000 bình luận và 20.000 lượt xem.
Tập đoàn IBM và BASF cũng đã sử dụng cách thu thập ý kiến từ nhân viên để xác định lại giá trị công ty và có ý tưởng để cắt giảm chi phí hoạt động.
3. Thắt chặt tình cảm và tạo không gian xử lý khủng hoảng
Khi chúng ta dùng chữ “cộng đồng” để miêu tả về phương tiện truyền thông xã hội, nghĩa là chúng ta định nghĩa rằng đó là nơi mà mọi người có thể đến để thảo luận, hợp tác và trao đổi kinh nghiệm. Hình thức này trở nên rất hữu ích cho những công ty đang trải qua những thay đổi quy mô lớn.
Khi Pfizer tiến hành cuộc cải tổ lớn vào năm 2007, họ đã tìm đến 10 nhân viên và nói chuyện với họ. Họ chọn những người đại diện trong từng cơ cấu tổ chức, và chia sẻ những kinh nghiệm thực tế trước máy quay. “Nhật ký video” này được thực hiện trong suốt 3 tháng. Nội dung video được ghi ra đĩa CD để toàn bộ nhân viên của Pfizer sẽ nhìn vào hành trình, kinh nghiệm đối mặt với các khó khăn của đồng nghiệp mình nhằm thay đổi sự hiểu biết, tăng sự tự tin của nhân viên. 
4. Giúp nhân viên thay đổi hành vi
Mạng xã hội hay truyền thông nội bộ giúp nhà lãnh đạo và nhân viên có phương tiện thuận lợi để khen ngợi và nhận những lời tán thưởng của nhau. Ví dụ, Công ty Symantec đã hợp tác với Globoforce để tung ra nền tảng xã hội sau khi sáp nhập, giúp nhân viên chia sẻ văn hóa công ty trong cách làm việc. Kết quả là gần 40% nhân viên đã được công nhận những nỗ lực vào dịp tổng kết cuối năm, khiến mức độ hài lòng của nhân viên tăng thêm 16%.
Một số công ty khác sử dụng phương tiện truyền thông xã hội để thay đổi hành vi của nhân viên gồm: thay đổi cách làm việc, thúc đẩy kết nối nhân viên với nhau hay với người hướng dẫn để nâng cao kỹ năng.
Để đưa được truyền thông xã hội vào doanh nghiệp, nhà lãnh đạo cần đánh giá các công cụ truyền thông hiện tại của công ty. Công ty nên sử dụng nền tảng mạng xã hội mà nhân viên quen thuộc, hoặc sử dụng những công cụ phổ biến như Google Hangout, WebEx hay Kaltura. Các công cụ được chọn phải hỗ trợ việc chuyển đổi ngay lập tức và phục vụ nhu cầu dài hạn của công ty.
Tiếp theo, lãnh đạo công ty cũng cần có sự điều chỉnh. Hãy chắc chắn rằng xây dựng mạng xã hội nằm trong kế hoạch chuyển đổi của công ty và có sự tham gia của các giám đốc điều hành. Sau đó, công ty xây dựng một đội ngũ nhân viên có tầm ảnh hưởng – những người có thể tham gia điều hành mạng xã hội nội bộ này.
Phương tiện truyền thông xã hội trở thành phương tiện bổ sung không thể thiếu trong doanh nghiệp. 88% nhân viên sử dụng một mạng xã hội nào đó tại nhà và cũng mong muốn có trải nghiệm tương tự tại nơi làm việc. Do đó, truyền thông xã hội là một phần không thể thiếu trong bất kỳ kế hoạch thay đổi nào. Việc mời nhân viên đóng góp ý kiến vào quá trình chuyển đổi có thể giúp lãnh đạo công ty ngăn chặn những bình luận tiêu cực, giúp quá trình chuyển đổi của công ty diễn ra trơn tru hơn.
Tuy nhiên nếu chỉ sử dụng mạng truyền thông nội bộ, công ty sẽ không thể lôi kéo tất cả nhân viên tham gia vào sự chuyển đổi lớn của công ty. Vẫn luôn cần có những cuộc gặp gỡ trực tiếp giữa quản lý với nhân viên để có sự hỗ trợ kịp thời, duy trì lòng tin và thúc đẩy tinh thần nhân viên, tăng hiệu quả của cuộc chuyển đổi.