Thứ Ba, 13 tháng 12, 2016

Cùng bạn tìm hiểu về mua sắm thông minh - xu hướng tiêu dùng hiện đại

Ford đã áp dụng xu hướng này cho một trong những bộ phận quan trọng nhất của ô tô là động cơ. Động cơ EcoBoost 1.0L của Ford là một trong những động cơ nhỏ nhất trên thị trường hiện nay với sức mạnh không hề thua kém động cơ của một siêu xe, là sự kết hợp ba quy trình công nghệ đỉnh cao để hoạt động tốt hơn mà vẫn giảm tới 20% lượng nhiên liệu tiêu thụ.
Cách đây không lâu đã tồn tại suy nghĩ kích thước đồ vật càng lớn đồng nghĩa chất lượng càng cao. Suy nghĩ này được gán cho mọi thứ, từ đồ gia dụng đến nhà cửa, xe cộ... Ngày nay, thế giới đang đi theo xu hướng hoàn toàn ngược lại: Mọi thứ nhỏ gọn hơn, đơn giản hơn và hiệu quả hơn.
Sự phát triển này không chỉ đúng với riêng một ngành công nghiệp nào, mà trên thực tế có thể thấy ở hầu hết mọi mặt của cuộc sống.
Xu hướng thu nhỏ
Sự phát triển của công nghệ luôn là một quá trình thú vị. Bước tiến của công nghệ khiến chúng ta hiểu rằng, những sản phẩm được tinh giản và thu gọn là những sản phẩm mang tính cách mạng nhất.
Chẳng hạn như 20 năm trước, để có thể nghe nhạc trong lúc đang di chuyển, chúng ta phải mang theo những thiết bị lỉnh kỉnh. Ngày nay, chúng ta có thể tận hưởng âm nhạc trong lúc chạy bộ, lái xe... bằng những thiết bị nằm gọn trong túi áo với trọng lượng gần như không đáng kể.
Ford đã áp dụng xu hướng này cho một trong những bộ phận quan trọng nhất của ô tô là động cơ. Động cơ EcoBoost 1.0L của Ford là một trong những động cơ nhỏ nhất trên thị trường hiện nay với sức mạnh không hề thua kém động cơ của một siêu xe, là sự kết hợp ba quy trình công nghệ đỉnh cao để hoạt động tốt hơn mà vẫn giảm tới 20% lượng nhiên liệu tiêu thụ.
Mặc dù ưa thích các thiết bị công nghệ được thu nhỏ nhưng người dùng vẫn có nhu cầu về sự đa năng, và những thiết bị chỉ có một tính năng đang dần lỗi thời. Ngày nay, chiếc điện thoại thông minh còn kiêm cả vai trò của máy ảnh kỹ thuật số, máy nghe nhạc MP3, máy thu âm, công cụ lên kế hoạch, máy chơi game hay để lướt web.
Các công ty như Jawbone và Apple đã nâng cấp chiếc đồng hồ thông thường thành một thiết bị điều khiển không chỉ cho biết thời gian mà còn giúp theo dõi các hoạt động, thói quen khi ngủ, nhịp tim và chế độ ăn kiêng của người đeo.
Những phát minh này xuất phát từ nhu cầu ngày càng nhiều của con người. Người tiêu dùng (NTD) giờ đây không muốn phải mang theo nhiều vật dụng lỉnh kỉnh bên mình và cảm thấy tự do hơn khi nắm giữ ít thứ trong tay hơn.
Nguyên tắc vàng của bất động sản luôn là địa điểm. Tuy nhiên, sự gia tăng dân số, quá trình đô thị hóa và cơ hội nghề nghiệp mở rộng khiến các trung tâm thành phố ngày càng đông đúc. Để đương đầu với sự thu hẹp diện tích, dân cư thành phố đang tìm kiếm những cách sống mới để có thể tận hưởng đầy đủ tiện nghi trong không gian nhỏ.
Một trong những giải pháp cho nhu cầu này là căn hộ siêu nhỏ, không gian sống khiêm tốn hơn chứa từ 1 - 6 phòng. Được gọi là "căn hộ của tương lai", những không gian hẹp này đang ngày càng phổ biến ở các thành phố lớn như New York, Bangkok, Tokyo và Thượng Hải.
Cao cấp nhưng không xa xỉ
Khủng hoảng kinh tế toàn cầu cũng cho NTD cơ hội để xem xét lại thói quen chi tiêu. Xu hướng phô bày việc chi tiêu và thói khoe khoang sự giàu có đã dần phai nhòa, cùng với đó là sự nổi lên của thị trường hàng xa xỉ kiểu mới.
Giờ đây, sự cao cấp được thể hiện tinh tế hơn rất nhiều khi đa số các xa xỉ phẩm đều nhỏ gọn, các chi tiết được tinh giản tối đa. Thị hiếu toàn cầu này khiến NTD không còn lựa chọn những hàng hóa có thiết kế quá bóng bẩy mà chuyển sang những sản phẩm thanh lịch hơn.
Trong xã hội hiện nay, NTD bắt đầu bớt hoang phí mà đang dần chuyển sang tiêu dùng vừa đủ theo nhu cầu. Trước đây, niềm tự hào của một gia đình chính là một căn bếp hoành tráng. Lúc đó, tư tưởng tiết kiệm cũng bị ảnh hưởng do sự hấp dẫn khó chối từ của đồ ăn sẵn hay những ưu đãi giảm giá khi mua số lượng lớn.
Nhưng hiện nay, NTD đã cẩn trọng hơn trong việc tiêu thụ đồ ăn trước sự lên ngôi của thực phẩm "không rác thải". NTD ngày càng có ý thức hơn và đã tìm cách tái sử dụng đồ ăn thừa, cả các nhà bán lẻ cũng đang đi theo xu hướng này.
Nhờ những tổ chức như endfoodwaste.org, các siêu thị trên toàn thế giới đã bắt đầu quảng bá và bán rau củ có bề ngoài không quá tươi ngon chứ không loại bỏ hết như trước đây.
Có thể nói, mua sắm theo nhu cầu và thông minh đang là xu hướng tiêu dùng ngày nay. Cung cấp cho NTD những thứ họ thực sự cần là điều quan trọng nhất vì ngày nay khách hàng hiểu rõ nhu cầu của mình hơn bao giờ hết.
Tạo ra những sản phẩm đơn giản bất cứ ai cũng muốn sử dụng mà vẫn kết nối NTD với những thứ họ yêu quý chính là kim chỉ nam của các nhà lãnh đạo. Nhu cầu mới về sự đơn giản đã trở thành mấu chốt cho rất nhiều kế hoạch kinh doanh, chỉ có điều hầu hết các kế hoạch đó chưa phải là kế hoạch dài hạn. Nhưng vẫn có một thiểu số đã làm được và tạo nên những bước tiến vượt bậc.

Chia sẻ cùng bạn về 7 bí quyết thành công của các triệu phú nổi tiếng thế giới

Để trở thành doanh nhân, bạn hẳn sẽ phải xoay sở nhanh chóng để không vụt mất các cơ hội mới, phải vậy không? Song kinh nghiệm thực tế từ Barbara Corcoran - người sáng lập The Corcoran Group và Barbara Corcoran Inc. - lại cho thấy rằng theo đuổi những thị trường mới là cách nhanh nhất dẫn tới thất bại.
Trong 2,5 năm qua, trang Entrepreneur đã phỏng vấn 65 doanh nhân triệu phú về bí quyết xây dựng các doanh nghiệp thành công. Những câu chuyện mà các doanh nhân này chia sẻ đã hé lộ nhiều bài học đáng kinh ngạc, phá vỡ mọi lối mòn mà chúng ta thường thấy trong kinh doanh.
Dưới đây là 7 bài học thành công đáng học hỏi nhất mà các biên tập viên của Entrepreneur đã chọn ra:
1. Đừng bao giờ tin rằng bạn biết nhiều hơn nhân viên của mình
Nói đến những nhà lãnh đạo quyền lực, nhiều người có thể nghĩ ngay đến những nhân vật kiểu nghiêm túc, quyết đoán và tỏ ra "biết tuốt" như Donald Trump.
Nhưng thực tế không phải lúc nào cũng như vậy. Khi Entrepreneurphỏng vấn Richard Branson, ông lại cho thấy một cách tiếp cận theo nghĩa hoàn toàn khác với việc lãnh đạo: “Với tất cả các nhân viên, tôi lắng nghe họ, tin tưởng họ, tôn trọng họ và để họ có cơ hội được thử! Tôi không bao giờ tin mình lại biết nhiều hơn họ", ông nói. Và đây cũng là một trong những điều quan trọng đã giúp Branson có được vị trí như ngày hôm nay.
2. Không “chơi lớn hoặc về nhà”
Chúng ta thường được nghe rằng trong kinh doanh, bạn phải chơi lớn (chấp nhận đặt cược) nếu không thì về nhà, nhảy vào bằng cả hai chân và phá bỏ đường lùi của mình.
Nhưng một bài học thú vị được rút ra từ cuộc phỏng vấn với bậc thầy marketing và tác giả được nhiều người đọc nhất Seth Godin là việc “chơi lớn hoặc về nhà” không phải là cách hay nhất đối với một doanh nhân vừa khởi nghiệp. Thay vào đó hãy khởi đầu nhỏ và bắt đầu ngay từ bây giờ.
3. Khách hàng không phải lúc nào cũng là "thượng đế"
Nhiều doanh nhân luôn làm theo triết lý khách hàng luôn đúng. Tuy nhiên, theo Tim Ferriss - tác giả có nhiều cuốn sách bán chạy trên tờThe New York Times lại cho rằng khách hàng không phải lúc nào cũng đúng hoặc giữ quyền chỉ huy.
Bởi thực tế, Ferriss cho rằng một số khách hàng không xứng đáng với điều đó, và bạn không cần phải cung cấp dịch vụ tốt cho họ. Loại khỏi danh sách phục vụ các khách hàng khó chịu sẽ giúp bạn có thêm thời gian để nuôi dưỡng các mối quan hệ với những khách hàng tốt và kiếm được thêm tiền về lâu dài.
4. Bạn không cần phải thông minh thì mới thành công
Những người muốn trở thành doanh nhân thường nghĩ rằng họ phải là người thông minh nhất (hoặc có hiểu biết nhất) trong lĩnh vực của họ thì mới kinh doanh thành công được. Cũng chính việc tự nhận bản thân là người kém thông minh đã khiến nhiều người từ bỏ khát vọng biến giấc mơ doanh nhân của họ thành hiện thực.
Tất nhiên, việc đảm bảo công ty của bạn là một trong số những công ty tốt nhất là điều quan trọng, nhưng theo Neil Patel - người sáng lập Kissmetrics, bạn không cần phải là người thông minh nhất thì mới trở thành một doanh nhân thành công mà quan trọng hơn bạn cần tuyển được những người thông minh và biết cách đặt họ vào đúng vị trí.
5. Hãy ích kỷ trong việc giải quyết các vấn đề
Các doanh nhân thành công trong các công ty thường giải quyết cả các vấn đề của những người khác? Có thể, nhưng Danae Ringelmann - người sáng lập nên Indiegogo cho rằng để đảm bảo thành công trong kinh doanh, hãy tập trung giải quyết vấn đề của chính chúng ta.
Ở độ tuổi 20, Ringelmann đã vấp phải một vấn đề và nhận ra rằng nó không chỉ tác động tới cô mà còn tác động tới mọi người trên khắp thế giới. Vậy vấn đề ở đây là gì? Đó chính là việc tiếp cận vốn thiếu hiệu quả. “Các ý tưởng không được ra đời mỗi ngày, không phải là vì thiếu đam mê hoặc động lực, mà là thiếu sự tiếp cận với đúng người gác cửa, người giữ hầu bao”, Ringelmann nói.
Hãy ích kỷ trong việc giải quyết các vấn đề. Nếu bạn trải qua một thách thức, thì có nhiều khả năng những người khác cũng trải qua nó.
6. Đầu tư vào sân sau của chính bạn
Để trở thành doanh nhân, bạn hẳn sẽ phải xoay sở nhanh chóng để không vụt mất các cơ hội mới, phải vậy không? Song kinh nghiệm thực tế từ Barbara Corcoran - người sáng lập The Corcoran Group và Barbara Corcoran Inc. - lại cho thấy rằng theo đuổi những thị trường mới là cách nhanh nhất dẫn tới thất bại.
“Tôi đã quan sát nhiều người thông minh hơn tôi rất nhiều nhưng lại mất đi số tiền bằng với số tiền tôi kiếm được. Bạn có biết họ đã quên mất điều gì không? Họ quên đầu tư vào sân sau của họ - thứ mà họ đều biết. Họ nghe ngóng được một thị trường mới đang là một hiện tượng và khi cố gắng thâm nhập nó, họ đã mất tất cả”, bà nói.
Do đó, đừng quên đầu tư vào sân sau của bạn, vào những gì là thế mạnh mà bạn hiểu rất rõ.
7. Đừng xem tiền là mục tiêu cuối cùng
Nhiều người muốn kinh doanh vì mục đích kiếm tiền, nhưng điều này không nên là lý do duy nhất. Marie Forleo - người sáng lập Marie TV và B-School chia sẻ bí quyết thành công trong kinh doanh của cô như sau: “Tiền bạc không phải là mục tiêu cuối cùng. Những người tôi cho là thành công nhất đều có động lực khác thúc đẩy họ, đó là mong muốn cháy bỏng được tạo ra sự khác biệt”.
Những doanh nhân không đơn thuần theo đuổi tiền bạc cũng chính là những người chịu nhiều "bầm dập" nhất nhưng cũng thành công nhất.

Giới thiệu với bạn về chỉ số PMI tháng 11 giảm thấp nhất trong 2 năm qua

Trong khi đó, một số công ty tham gia khảo sát cho biết đã nâng sản lượng để đáp ứng mức tăng của số lượng đơn đặt hàng mới, tuy nhiên cũng có những công ty khác lại cho biết sản lượng giảm do số lượng đơn đặt hàng mới giảm. Trong đó, sản lượng trong lĩnh vực hàng hóa đầu tư cơ bản tiếp tục tăng, nhưng trong lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng và trung gian lại giảm.
Kết quả này cho thấy các điều kiện kinh doanh tại các công ty sản xuất của Việt Nam bị suy giảm nhẹ. Trước đó, hồi tháng 9, PMI Việt Nam đã giảm xuống dưới ngưỡng 50 điểm lần đầu tiên trong 25 tháng, đạt 49,5 điểm.
Theo Nikkei, số đơn đặt hàng mới trong tháng 11 đã giảm tháng thứ ba liên tiếp, mặc dù chỉ giảm nhẹ. Ngoài ra, số lượng đơn đặt hàng xuất khẩu mới cũng giảm tháng thứ 6 liên tiếp.
Các công ty duy trì sản lượng không đổi trong tháng sau khi đã tăng nhẹ trong tháng 10. Nikkei cho rằng, áp lực giảm phát vẫn còn trong lĩnh vực sản xuất khi giá cả đầu ra đã giảm với tốc độ nhanh hơn.
Trong khi đó, một số công ty tham gia khảo sát cho biết đã nâng sản lượng để đáp ứng mức tăng của số lượng đơn đặt hàng mới, tuy nhiên cũng có những công ty khác lại cho biết sản lượng giảm do số lượng đơn đặt hàng mới giảm. Trong đó, sản lượng trong lĩnh vực hàng hóa đầu tư cơ bản tiếp tục tăng, nhưng trong lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng và trung gian lại giảm.
Số lượng đơn đặt hàng mới giảm cũng dẫn đến tình trạng giảm việc làm lần đầu tiên kể từ tháng 3/2015. Trong khi các công ty sản xuất hàng hoá đầu tư cơ bản tiếp tục tăng số lượng nhân công thì các lĩnh vực hàng hóa tiêu dùng và hàng hóa trung gian đã giảm việc làm.
Trong báo cáo về PMI tháng 11/2015, ông Andrew Harker (tại Markit - công ty thu thập kết quả khảo sát) cho rằng lĩnh vực sản xuất của Việt Nam đang trải qua một thời kỳ đình trệ, khi các công ty khó bảo đảm nhận được các hợp đồng mới.

Cùng tìm hiểu về vấn đề trên đường khởi nghiệp: Hãy lắng nghe bản năng

Zach Robbins bắt đầu thực hiện dự án Leadnomics từ khi còn đang học đại học nên ở giai đoạn này, Zach có cơ hội nhận được nhiều góp ý từ các chuyên gia. “Những người đồng quan điểm sẽ giúp bạn đẩy ý tưởng đi xa hơn. Mặt khác, những góp ý khách quan từ những người dày dạn kinh nghiệm cũng sẽ giúp bạn suy nghĩ khác đi và đôi khi cứu bạn khỏi những sai lầm nghiêm trọng”, Zach Robbins khuyên.
Zach Robbins – nhà đồng sáng lập công ty quảng cáo kỹ thuật số Leadnomics cho rằng, trong trường hợp này, việc lắng nghe bản năng trở nên rất quan trọng.
Sau đây là những cách giúp cho bản năng lên tiếng để bạn trở thành một nhà sáng lập xuất sắc:
1. Duy trì sự khách quan
Zach Robbins cho biết: “Lúc đầu, tôi thường rất kiên trì với một dự án đến nỗi hiếm khi nghĩ rằng nó sẽ không thành công. Tôi không bị tác động nhiều bởi các dữ liệu. Khi đầu tư nhiều thời gian, năng lượng và vốn liếng, một cách tự nhiên, bạn sẽ cảm thấy mình bị gắn liền với một ý tưởng hoặc một dự án. Thậm chí bạn còn có thể thuyết phục bản thân rằng bạn đang làm tốt, dù sự thật có phải là vậy hay không".
Tuy nhiên, Zach Robbins cho rằng, ở giai đoạn sau, lúc đã thu gom được quá nhiều dữ liệu, quá nhiều thông tin, bạn sẽ có xu hướng không còn muốn lắng nghe bản năng của mình nữa. Bạn thậm chí còn không muốn lắng nghe sự thật.
Vì vậy, hãy cố gắng duy trì sự khách quan. Hãy xem xét những dữ liệu thô một cách tỉnh táo để xem nó thật sự có ý nghĩa gì. Bạn cần có đam mê để làm việc nhưng cũng cần có lý trí để bỏ qua những thứ không cần thiết.
2. Hãy có một “thùng thư góp ý”
Zach Robbins bắt đầu thực hiện dự án Leadnomics từ khi còn đang học đại học nên ở giai đoạn này, Zach có cơ hội nhận được nhiều góp ý từ các chuyên gia.
“Những người đồng quan điểm sẽ giúp bạn đẩy ý tưởng đi xa hơn. Mặt khác, những góp ý khách quan từ những người dày dạn kinh nghiệm cũng sẽ giúp bạn suy nghĩ khác đi và đôi khi cứu bạn khỏi những sai lầm nghiêm trọng”, Zach Robbins khuyên.
3. Đừng bao giờ phản bội bản năng
Các chuyên gia cố vấn có thể nhiều kinh nghiệm hơn bạn trong nhiều lĩnh vực nhưng điều đó không có nghĩa là mọi nhận định của họ đều đúng đối với tất cả tình huống bạn gặp phải trong quá trình kinh doanh.
Hãy chú trọng những góp ý của họ, nhưng đừng xem họ như “quyển từ điển sống”. Bởi vì đôi khi, chính những dữ liệu có sẵn và bản năng của bạn sẽ dẫn dắt bạn đi đúng hướng.
4. Làm việc nhiều không đồng nghĩa với làm việc hiệu quả
Bạn thường rất bận rộn ở giai đoạn đầu thực hiện ý tưởng, và sự bận rộn đó có phải là dấu hiệu cho thấy bạn đang tiệm cận thành công? Hãy cẩn thận, đừng để bị rơi vào tình trạng nhận thức sai lầm về năng suất.
“Những phần việc không quan trọng, không phục vụ trực tiếp cho mục tiêu đôi khi lại tiêu tốn đến 40% thời gian của bạn. Vì vậy, đừng để phí công sức vào những phần việc hoặc những cuộc gặp gỡ vô nghĩa”, Zach Robbins nói.

Tìm câu trả lời cho: CMO: Cần hay không?

Nghiên cứu khảo sát quyền lực của bộ phận marketing tại 612 DN của Mỹ trong giai đoạn 1993 - 2008 cho thấy, quyền lực của bộ phận marketing tăng theo thời gian, làm tăng thu nhập cổ đông của công ty trong tương lai dài hạn thông qua việc tác động tích cực đến chỉ số thu nhập trên tài sản trong ngắn hạn. Tuy nhiên, khi ứng dụng vào thực tiễn cần lưu ý:
Nghiên cứu của Nath và Mahajan năm 2008 đăng trên Tạp chí Tiếp Thị (Journal of Marketing) của Hiệp hội Marketing Hoa Kỳ hồi tháng 5 và tháng 9/2015 cho rằng, gần như sự hiện diện của CMO trong nhóm TMT không có tác động đến hiệu quả kinh doanh của DN.
Trong khi đó, Weinzimmer và đồng sự chỉ ra rằng, sự hiện diện của CMO trong nhóm TMT có tác động tích cực đến tăng trưởng doanh số. Nghiên cứu này thúc đẩy vai trò của CMO trong nhóm C-suite (nghĩa giống như TMT) vì họ mang đến cho công ty nhiều khách hàng hơn, dẫn đến nâng cao hiệu quả kinh doanh của DN.
Năm 2013, Moorman báo cáo kết quả một khảo sát cho thấy giá trị của bộ phận marketing mang lại cho công ty vẫn còn là một thách thức lớn đối với các CMO, trong đó có 66% các CMO trả lời rằng họ phải chịu áp lực của giám đốc điều hành (CEO) và hội đồng quản trị về bằng chứng giá trị thực sự bộ phận marketing mang lại cho công ty.
Bằng cách sử dụng dữ liệu của 155 DN từ năm 2000 - 2011, đồng thời sử dụng nhiều mô hình phân tích khác nhau, tác giả khẳng định sự hiện diện của CMO làm tăng các lợi ích tài chính cho DN. Các tác giả cũng sử dụng chỉ số Tobins q để đánh giá hiệu quả kinh doanh của DN, theo đó, các DN thuê CMO có hiệu quả kinh doanh cao hơn 15% so với các DN không thuê. Kết quả này đã khẳng định vai trò của CMO và phủ nhận các tranh cãi của các nhà nghiên cứu và quản trị trước đây.
Một phát hiện khác của nghiên cứu chỉ ra rằng, nếu số nhân viên của một DN tăng lên thì số lượng thành viên trong nhóm TMT cũng tăng, dẫn đến vai trò của CMO trong việc ảnh hưởng đến các quyết định chiến lược của DN ngày càng giảm.
Nghiên cứu cũng xác nhận, nếu nhiệm kỳ của CEO càng lâu thì vai trò ảnh hưởng của CMO càng giảm. Rủi ro hệ thống sẽ giảm khi tăng trưởng doanh số tăng trong trường hợp CMO hiện diện trong nhóm TMT sử dụng chiến lược khác biệt hóa.
Nghiên cứu khảo sát quyền lực của bộ phận marketing tại 612 DN của Mỹ trong giai đoạn 1993 - 2008 cho thấy, quyền lực của bộ phận marketing tăng theo thời gian, làm tăng thu nhập cổ đông của công ty trong tương lai dài hạn thông qua việc tác động tích cực đến chỉ số thu nhập trên tài sản trong ngắn hạn. Tuy nhiên, khi ứng dụng vào thực tiễn cần lưu ý:
- Nếu chỉ đơn giản tuyển dụng CMO vào nhóm TMT của DN, sẽ không nhận được sự cải thiện về mặt hiệu quả kinh doanh. CMO chỉ có vai trò làm tăng hiệu quả kinh doanh của DN khi DN thực sự hướng đến thị trường.
- Các CMO thường gặp không ít khó khăn để chứng minh giá trị của họ so với các chức danh khác trong nhóm TMT, điển hình là nhiệm kỳ của họ trung bình khoảng 2 năm so với 5 năm của CEO. Các nghiên cứu cho thấy, sự hiện diện của họ có tác động tích cực đến hiệu quả kinh doanh của DN.
- Những nhà lãnh đạo cấp cao nên tìm cách làm tăng quyền lực của bộ phận marketing trong nhóm TMT vì nó không những đóng góp tích cực vào giá trị của các bên liên quan trong dài hạn mà còn tăng lợi nhuận trong ngắn hạn.
- Các nhà quản trị nên tập trung phát triển và xây dựng tài sản vô hình dựa trên thị trường của DN, đó chính là việc am hiểu và nắm giữ khách hàng.
Đối với các DN Việt Nam, vai trò của bộ phận marketing nói chung và CMO nói riêng cần phải được nhìn nhận ở tầm chiến lược cao nhất của ban lãnh đạo DN. Các DN Việt đang chuyển từ hướng gia công sản xuất sang hướng thị trường thì năng lực lõi của DN là marketing.

Cùng bạn khám phá về CEO và chuyện "lựa lời" xin lỗi

Khi CEO Scott Thompson của Yahoo! Inc. gửi lời xin lỗi liên quan đến vụ khai man bằng cấp trong hồ sơ lý lịch của mình năm 2012, ông không thừa nhận đây là “lỗi lầm” mà chỉ là sự “lơ là” và cam kết sẽ “tiếp tục tiến lên phía trước”. Các giáo sư đã chấm điểm lời xin lỗi của Thompson là zero. Thế nhưng, giá cổ phiếu Yahoo! đã tăng lên trong nhiều ngày sau đó, dù rằng Thompson cuối cùng đã từ chức.
Khi xảy ra một sự cố truyền thông như nhà điều hành doanh nghiệp vướng vào một vụ bê bối hay sản phẩm công ty bị lỗi, các chuyên gia xử lý khủng hoảng thường khuyên khách hàng của mình phải làm ngay một việc. Đó là nói lời xin lỗi, với tất cả sự chân thành.
Ông Gene Grabowski - người từng đạt danh hiệu Chuyên gia Xử lý Khủng hoảng truyền thông của năm - đã yêu cầu CEO của các doanh nghiệp mà ông tư vấn phải đọc các điểm chính 3 lần: một lần đọc to, một lần đọc cho mình nghe và đọc to thêm một lần nữa. Mục đích là làm sao cho lời xin lỗi nghe thật tha thiết và chân thành.
“Mấu chốt là cảm nhận được các thông điệp muốn chuyển tải, chứ không chỉ là tường thuật chúng”, ông nói. Ông Grabowski là người tư vấn cho hãng sản xuất kem Mỹ Blue Bell Creameries cách thức xin lỗi sau một cơn bùng nổ vi khuẩn hình que gây chết người vào tháng 4 vừa qua.
Các nhà đầu tư trên thị trường chứng khoán lại có cảm xúc riêng về lời xin lỗi của doanh nghiệp, theo một nghiên cứu mới đây của 2 vị giáo sư đối với hơn 100 lời xin lỗi doanh nghiệp trong 3 thập niên qua cho đến hết năm 2012. Và kết quả nghiên cứu khá bất ngờ. Họ đã khám phá ra rằng những doanh nghiệp đưa ra lời xin lỗi thống thiết nhất lại cũng là những doanh nghiệp chứng kiến giá cổ phiếu của họ giảm sâu nhất trong tuần tiếp theo đó.
“Công ty càng thể hiện sự tha thiết, đồng cảm, càng cam kết giải quyết vụ việc đến nơi đến chốn bao nhiêu thì họ càng bị thị trường quay lưng bấy nhiêu”, Giáo sư Daryl Koehn - chuyên gia nghiên cứu về đạo đức học thuộc Đại học DePaul - nói về nghiên cứu của bà cùng với Maria Goranova - Giáo sư về quản trị tại Đại học Wisconsin.
Cả 2 đã xem xét một lượng cơ sở dữ liệu lớn từ vụ thu hồi những viên thuốc Tylenol bị nhiễm độc năm 1982 cho đến câu “lỡ miệng” nổi tiếng “Tôi muốn cuộc sống trở lại như ngày trước” của Tony Hayward - CEO hãng dầu mỏ Anh BP - sau sự cố tràn dầu tại vịnh Mexico năm 2010.
Các giáo sư đã xếp hạng các lời xin lỗi theo thang điểm về mức độ hoàn hảo. Họ đánh giá một lời xin lỗi hoàn hảo là lời xin lỗi bao gồm những yếu tố sau: thừa nhận trách nhiệm, ghi nhận những tổn hại gây ra, cho thấy sự khôn ngoan, đích thân đưa ra lời xin lỗi một cách kịp thời, thể hiện sự đồng cảm với các nạn nhân và cam kết giải quyết vụ việc đến nơi đến chốn.
Không lời xin lỗi nào trong cơ sở dữ liệu của họ được xếp hạng là hoàn hảo và chỉ 3 lời xin lỗi nhận được điểm cao thứ 2 sau điểm cao nhất. Trong đó, một lời xin lỗi là từ hãng phần mềm Mỹ Intuit. Vị CEO của công ty này là Brad Smith đã viết “tâm thư” cho các khách hàng vào năm 2010 “để gửi lời xin lỗi sâu sắc vì nỗi đau” mà Công ty đã gây ra cho họ sau một sự cố ngưng hoạt động làm tê liệt các phần mềm nổi tiếng như Quicken và TurboTax. Tha thiết là thế, nhưng giá cổ phiếu của Intuit đã giảm 4% trong tuần tiếp theo.
Khi CEO Scott Thompson của Yahoo! Inc. gửi lời xin lỗi liên quan đến vụ khai man bằng cấp trong hồ sơ lý lịch của mình năm 2012, ông không thừa nhận đây là “lỗi lầm” mà chỉ là sự “lơ là” và cam kết sẽ “tiếp tục tiến lên phía trước”. Các giáo sư đã chấm điểm lời xin lỗi của Thompson là zero. Thế nhưng, giá cổ phiếu Yahoo! đã tăng lên trong nhiều ngày sau đó, dù rằng Thompson cuối cùng đã từ chức.
Điều mà các giáo sư đã hy vọng rằng sẽ chứng minh được qua cuộc nghiên cứu là nhà đầu tư đánh giá cao những lời xin lỗi chân thành nhất. Nhưng thay vào đó, các tài liệu được tìm thấy với những chứng cứ thuyết phục nhất lại là nhà đầu tư phản ứng tiêu cực đối với những lời xin lỗi như vậy. Còn các CEO nhận ra vấn đề và nhận trách nhiệm đối với sự cố nhưng lại đưa ra lời xin lỗi qua loa thì lại chứng kiến mức tăng nhẹ trong giá cổ phiếu công ty họ.
Một lý do mà sự tha thiết có thể khiến nhà đầu tư bực bội là nó thường được xem như một đặc tính của phụ nữ hoặc biểu hiện của sự yếu đuối, theo các nhà nghiên cứu. Tất cả các lời xin lỗi mà họ nghiên cứu đều từ các CEO là nam giới. Một báo cáo năm 2007 về các đợt bổ nhiệm CEO cho thấy giá cổ phiếu công ty giảm mạnh hơn khi CEO mới nhậm chức là một phụ nữ.
Một lời giải thích khác cho phản ứng trên của thị trường, theo Koehn là “nếu bạn thể hiện tất cả sự thống thiết, đồng cảm và mối dây liên kết với người nghe, thị trường chứng khoán có thể cho rằng: “Sắp tới công ty sẽ làm gì đó và sẽ tốn kém lắm đây”.
Nhưng dù rủi ro thị trường là gì đi chăng nữa thì trong một thời đại mà bất cứ ai có điện thoại di động đều có thể “loan tin” những việc làm sai của công ty đi khắp nơi, chẳng có gì có thể thay thế được lời xin lỗi, theo Richard Levick - một chuyên gia về truyền thông chuyên tư vấn cho các ngân hàng phố Wall. Ông hay nói với khách hàng của mình rằng lời xin lỗi là cách nói ít tốn tiền.
Levick dẫn chứng một nghiên cứu năm 2009 của Đại học Nottingham School of Economics. Nghiên cứu này cho thấy một lời xin lỗi đối với các khách hàng đang bất mãn có hiệu quả hơn so với bồi thường bằng tiền mặt. Chỉ 23% khách hàng đồng ý rút đơn khiếu nại đổi lấy tiền bồi thường, trong khi 45% rút đơn sau khi công ty nói lời xin lỗi. “Trước khi trở thành cổ đông, trước khi là người tiêu dùng, chúng ta đều là những con người”, Levick nói.
Do công ty sản xuất kem Blue Bell không giao dịch đại chúng nên không có cách nào đánh giá được phản ứng của nhà đầu tư đối với lời xin lỗi thu hồi sản phẩm của công ty này vào đầu năm nay. Nhưng theo Giáo sư Koehn, khách hàng vẫn yêu thích thương hiệu này. Bằng chứng là khi sản phẩm của Blue Bell có mặt trở lại tại các cửa hàng vào mùa hè năm nay, khách hàng vẫn xếp hàng để mua. Phản ứng này có thể giúp chứng minh một luận điểm khác, theo Koehn, là “thị trường có thể phản ứng không đồng điệu với phần đông dân chúng”.

Chia sẻ cùng bạn 7 bài học thành công từ ông chủ Oracle

Oracle dưới thời Larry đã khởi xướng một vụ kiện lớn với Google, cáo buộc bộ máy tìm kiếm lớn nhất thế giới này sử dụng trái phép Java khi phát triển và xây dựng Android. Vào năm 2013, trong cuộc đối thoại với các nhà phân tích của Wall Street, Larry Ellison tự tin khẳng định rằng Oracle đang làm tốt hơn đối thủ SAP và Workday rất nhiều, đồng thời cho biết mảng điện toán đám mây của Oracle trị giá tầm 1 tỷ đô, lớn hơn cả SAP và Workday cộng lại.
Dheeraj Pandey đã từng là nhân viên tại Oracle. Chỉ sau vài năm làm việc tại đây, Pandey đã thu được những kinh nghiệm điều hành bổ ích từ Ellison. Sau khi trở thành CEO kiêm nhà đồng sáng lập của Nutanix - công ty dẫn đầu trong việc tạo ra dòng sản phẩm “siêu hội tụ” giúp đưa các dịch vụ lưu trữ, máy chủ và ảo hóa vào một thiết bị tích hợp, người nhân viên Oracle ngày nào đã nghiêm túc áp dụng những bài học đó vào công việc. Vào năm 2014, sau 4 năm đi vào hoạt động, Nutanix đã huy động được nguồn vốn trị giá 312,2 triệu đô la và là một trong những công ty startup được kỳ vọng sẽ mang về doanh thu hàng tỷ đô trong năm 2015.
Pandey cho biết: “Cách mà Larry Ellison xây dựng công ty luôn mang tầm chiến lược, và tôi đã học hỏi được rất nhiều không chỉ ở cách điều hành mà còn ở cách xây dựng văn hóa với một tính cách mạnh mẽ”.
Dheeraj Pandey - CEO, đồng sáng lập Nutanix doanhnhansaigon
Nhờ những bài học từ Larry Ellison, Dheeraj Pandey - CEO, đồng sáng lập Nutanix đã kiếm được 2 tỷ USD sau 6 năm kinh doanh
Dưới đây là những chia sẻ của Pandey về những điều ông đã học được từ Ellison và lãnh đạo công ty gặt hái thành công:

Larry Ellison, Chủ tịch kiêm Giám đốc Công nghệ của Oracle.
1. Không nhân nhượng với đối thủ
Larry Ellison được xem là thủ lĩnh “máu lạnh” của Oracle, bởi ông thường không ngần ngại đe dọa, chê bai đối thủ công khai trên các phương tiện truyền thông, thậm chí kiện đối thủ ra tòa.
Oracle dưới thời Larry đã khởi xướng một vụ kiện lớn với Google, cáo buộc bộ máy tìm kiếm lớn nhất thế giới này sử dụng trái phép Java khi phát triển và xây dựng Android. Vào năm 2013, trong cuộc đối thoại với các nhà phân tích của Wall Street, Larry Ellison tự tin khẳng định rằng Oracle đang làm tốt hơn đối thủ SAP và Workday rất nhiều, đồng thời cho biết mảng điện toán đám mây của Oracle trị giá tầm 1 tỷ đô, lớn hơn cả SAP và Workday cộng lại.
Gần đây, trong năm 2015, tại hội thảo công nghệ của hãng tại San Francisco, Larry lại tự tin phát biểu: “IBM và SAP là hai đối thủ nặng ký nhất, nhưng giờ chúng tôi không còn để ý đến họ nữa”.
2. Có “niềm tin không nao núng” vào chiến lược của mình
Oracle dưới sự quản lý của Larry Ellison từng thực hiện một trong những vụ thâu tóm lớn nhất lịch sử công nghệ khi chi 10,3 tỷ USD cho PeopleSoft. Bộ Tư pháp ở Mỹ đã gửi đơn kiện dân sự theo Luật Chống độc quyền nhằm ngăn cản Oracle mua lại đối thủ kinh doanh, 7 bang ở Mỹ đã tham gia vụ kiện và khẳng định vụ sáp nhập này sẽ phá vỡ thế cạnh tranh giữa 2 nhà cung cấp phần mềm quản lý tài chính doanh nghiệp.
Trong bối cảnh đó, Lary Ellison đã đứng lên chống lại những cáo buộc trên, trải qua 18 tháng đàm phán gay go, cuối cùng đã giành chiến thắng, giúp Oracle mua lại thành công Peoplesoft với giá 26,5 USD/cổ phiếu, tương đương 10,3 tỷ USD.
3. Không sợ nuôi dưỡng các phần tử “nổi loạn”
Theo Pandey, Ellison không bao giờ muốn ở xung quanh những người chỉ biết nói “đồng ý”. Những nhà điều hành kỳ cựu trước đây của công ty bao gồm Marc Benioff của Salesforce, Tom Siebel của Siebel Systems, Craig Conway của PeopleSoft và cựu Chủ tịch HP Ray Lane.
“Tất cả những nhân sự này cuối cùng đều cạnh tranh với Oracle, nhưng nếu không có họ, Oracle sẽ không thể trở thành một Oracle mà chúng ta biết ngày hôm nay”, Pandey khẳng định.
4. Để mình bị “ám ảnh” bởi sản phẩm của công ty
Lần đầu tiên vào 30 năm trước, Ellison đã đưa ra ý tưởng về hệ thống quản trị cơ sở dữ liệu Oracle, và cho tới ngày nay, ông vẫn giữ vai trò giám đốc công nghệ của công ty, tham gia vào quá trình phát triển phần mềm quản trị dữ liệu của Oracle cùng nhiều sản phẩm khác.
Ellison luôn hướng tầm nhìn của mình về tương lai của ngành công nghệ nói chung và của Oracle nói riêng vào các sản phẩm của Oracle, ví dụ như thiết kế phần mềm dữ liệu thân thiện với internet vào những năm 1990, và thiết kế lại để tương thích với công nghệ điện toán đám mây vào những năm sau đó.
5. Làm việc chặt chẽ với những người trực tiếp “sản xuất”
“Khi công ty lớn mạnh, thật dễ dàng để ủy thác việc xây dựng mối quan hệ cho những người quản lý, rồi quản lý của quản lý, như vậy là 4 cấp độ. Điều này khiến cho rất nhiều kỹ sư chuyên gia, người xây dựng và sáng tạo sản phẩm cảm thấy mất đi tiếng nói”, Pandey nói.
Oracle đã từng có một đội ngũ với tên gọi “Oracle Red”, bao gồm các kỹ sư đã gắn bó hàng thập kỷ với công ty, Ellison biết cách gạt bỏ khoảng cách về cấp bậc để tiếp cận với những nhân tài trong công ty, đặc biệt là đội ngũ xây dựng và sáng tạo sản phẩm.
6. Hứng thú với những thị trường lớn và khó
Trong những thị trường đã được Oracle “chinh phạt”, Larry Ellison thấu hiểu thị trường Nhật Bản và Trung Quốc tốt hơn bất kể một công ty nào khác, kể cả Microsoft.
Nhật Bản là một thị trường thành công của Oracle, và đây cũng là một đất nước được Larry Ellison đặc biệt yêu thích. Vào năm 2000, ngay sau sự cố internet toàn cầu và khó khăn về tài chính tại Mỹ, chi nhánh Nhật Bản của Oracle vẫn huy động được 7,5 tỷ đô trên sàn chứng khoán Tokyo.
7. Sẵn sàng nhún nhường và thay đổi chiến lược
Ellison từng thay đổi quan điểm rất nhiều lần, và lần gần đây nhất ông đã đưa sản phẩm của Oracle vào thị trường điện toán đám mây trong khi trước đó đã chê bai và gạt ý tưởng này đi.
Ông từng chuyển từ quan điểm “only built here” (tạm dịch là “chỉ có ở đây”) sang những thương vụ M&A đầy tham vọng, chuyển từ việc hỗ trợ hệ điều hành Unix sang Linux. Ông thậm chí còn hợp tác với Microsoft, đối thủ cạnh tranh lâu năm và củng cố lại mối quan hệ với CEO của Salesforce - Marc Benioff, khách hàng đồng thời là đối thủ lớn của Oracle.